K.Will

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
K.Will
K.Will on May 14, 2013.jpg
Thông tin nghệ sĩ
Nghệ danhHyungKnight
Sinh30 tháng 12, 1981 (37 tuổi)
Gwangju, Hàn Quốc
Nguyên quánHàn Quốc
Thể loạiR&B, soul, Pop
Năm hoạt động2006 – hiện nay
Hãng đĩaStarship Entertainment
Hợp tác vớiBoyfriend, Sistar

Kim Hyung Soo (Hangul: 김형수, sinh ngày 30 tháng 12 năm 1981) còn được biết đến là K.Will (Hangul: 케이윌) là một ca sĩ nhạc ballad Hàn Quốc.[1] K.Will lần đầu tiên được biết đến tại Hàn Quốc với single "Dream" là "A Love To Kill" OST, phát hành vào năm 2006. Khoảng một năm sau, anh phát hành album đầu tiên "Left Heart" vào năm 2007. Sau hai năm nữa, anh trở lại với single "Love 119", vào tháng 12 năm 2008. Ngay sau đó với mini-album "Dropping The Tears" vào tháng 4 năm 2009 và album thứ hai "Miss, Miss and Miss" vào tháng 11 năm 2009.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tuổi trẻ[sửa | sửa mã nguồn]

K.Will rất thích hát từ khi còn bé, bắt đầu từ việc hát với mẹ khi mẹ chơi Guitar, anh đã từng bị đuổi khỏi lớp vì quá ồn ào.[2] Sau khi tốt nghiệp trung học, anh quyết định sẽ trở thành ca sĩ và nói với bố mẹ. Tuy nhiên, họ lại không đồng ý với quyết định đó và cố gắng thỏa thuận với anh, nói rằng anh có thể chơi nhạc trong khi đang làm công việc khác. Cuối cùng, anh nhận ra là quá khó khăn khi làm hai việc cùng một lúc, nên anh quyết định sẽ trở thành ca sĩ.

Bắt đầu sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

K.Will tham gia vào một buổi thử giọng và những nhà soạn nhạc cho rằng anh có tiềm năng để hát tiếp.[3] Khi trở thành trainee, anh làm mọi thứ để có thể hát như là biểu diễn trên đường phố, hát bè, hay là hát điệp khúc cho những nghệ sĩ nổi tiếng. Trong lúc đó, anh đã xây dựng tình bạn với một số nghệ sĩ như 8Eight, Lim Jeong-hee, SG Wannabe... K.Will thường bị nhầm là người soạn nhạc bài "Hug" của TVXQ cho đến khi việc này được làm rõ trong một buổi phỏng vấn trên KBS World.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

2006-2007[sửa | sửa mã nguồn]

Khi K.Will đang giúp Rain sản xuất album thứ hai, anh nhận được một lời mời từ Park Jin Young, một nhà sản xuất âm nhạc lớn tại Hàn Quốc. Park Jin Young đã viết và soạn cho anh một bài hát trong album đầu tiên "Left Heart" của K.Will, phát hành ngày 6 tháng 3 năm 2007. Cứ tưởng "Left Heart" là bài hát debut của K.Will nhưng anh đã có màn debut trước đó cùng với Lim Jeong-hee (được biết đến là J-Lim) vào năm 2006.

Trong thời gian đó, những video K.Will hát lại những bài hát của Mariah Carey được đăng lên mạng như "Without You", "My All", "I Still Believe"... và hát khá tốt nên những netizen gọi anh là "Mariah Carey phiên bản nam"

2008-2009[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 2 tháng 12,2008 K.Will phát hành digital single "Love 119", một sự kết hợp với rapper có tiếng MC Mong. Bài hát này đã xếp #1 trên bảng xếp hạng online và xếp #2 trên KBS Music Bank K-Chart mà không hề quảng bá.

Tiếp nối với bài hát nổi tiếng "Love 119", K.Will phát hành mini album mang tên "Dropping The Tears" vào 31 tháng 3 năm 2009. Anh cũng đã làm việc với hai thành viên của SNSD: TiffanyYuri cho album này. Yuri xuất hiện trong MV "Dropping The Tears", còn Tiffany gọp giọng vào bài hát "Girl, Meets Love". K.Will và Tiffany đã biểu diễn bài hát này trên Music Core vào tháng 7,2009.

Vào 25 tháng 12 năm 2009 K.Will đã có concert đầu tiên của riêng mình. Vé được bán hết nhanh hơn bất kì ca sĩ solo nào.

2010-2011[sửa | sửa mã nguồn]

K.Will debut tại USA trong "THE THREE ROMANTICIST" concert cùng với Kim Bum SooYoo Seung Chan vào 5 tháng 3 năm 2010. Single của anh tên "Present" được phát hành vào 10 tháng 3 năm 2010 và đã xếp #1 trên nhiều bảng xếp hạng online.

K.Will tổ chức concert đầu tiên tại Nhật Bản, "K.Will Live Concert with Band In Tokyo" vào tháng 5,2011 và "K.Will Live Concert with Band In Osaka" vào tháng 7,2011.

Khoảng một năm sau album thứ hai của anh, anh phát hành digital single "Amazed" cùng với Simon DHyorin của Sistar vào 21 tháng 1 năm 2011. Bảy tuần sau đó, mini album thứ hai của anh được phát hành và anh tổ chức một live showcase và phát hành MV "My Heart Is Beating" có sự tham gia của Lee Joon (MBLAQ) và IU, bài hát này đã all-kill mọi bảng xếp hạng online. Năm năm kể từ khi debut, K.Will lần đầu tiên nhận được cúp tại SBS Inkigayo

2012[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi tham gia KBS Immortal Songs II vào tháng 11 năm 2011. K.Will đã rời chương trình sau khi thắng 3 lần, tạo nên kỉ lục mới.

Vào ngày 14 tháng 2 năm 2012 (Ngày Valentine) K.Will phát hành 3rd mini-album "I Need You" hai tuần sau khi sau khi phát hành digital single "I Hate Myself". Cùng ngày đó, K.Will cũng đã phát hành MV "I Need You" thông qua Starship Entertainment's offical Youtube channel, có Bora (Sistar), Ji Chang WookYeo Jin Gu đóng vai chính. "I Need You" xếp #2 tại Billbroad K-pop Hot 100 trong khi "I Hate Myself" xếp #6. K.Will lần đầu tiên thắng #1 tại K-Chart kể từ khi debut được 6 năm tại KBS Music Bank với ca khúc "I Need You"

Album "Third Album, Part 1" được phát hành vào ngày 11 tháng 10 cùng với MV "Please Don't..." - bài hát chủ đề. "Please Don't" là bài hát được quảng bá thành công nhất của K.Will từ lúc trước đến nay. MV "Please Don't..." có sự tham gia của Seo In Guk, Dasom (Sistar) và An Jae-hyeon

2013[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 14 tháng 2 năm 2013 Powerhouse Live (U.S.) mời K.Will đến biểu diễn Valentine's Day concert ở Orpheum Theatre tại Los Angeles, California.

Vào 3 tháng 4 K.Will phát hành single "Love Blossom"

Vào 19 tháng 10, K.Will phát hành album "Will In Fall" với bài chủ đề là "You Don't Know Love". Trong MV có sự tham gia của Chanyeol (EXO) và người mẫu Lee Ho-jung ra mắt vào ngày 21 tháng 10.

2014[sửa | sửa mã nguồn]

Vào 25 tháng 6, K.Will cho phát hành mini-album "One Fine Day", với bài hát chủ đề tên "Day 1", trong MV có sự tham gia của Soyu (Sistar) và nam diễn viên Park Min-woo.

2015[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu năm 2015, K.Will kết hợp cùng Ham Eun-jung của T-ara nhằm ra mắt cũng như hỗ trợ ca khúc I'm Good.

2017[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 26 tháng 9, K.Will phát hành Nonfiction nằm trong ''The 4th Album Part 1''.

Chương trình thực tế

Năm Tên Network
2014 Real Men MBC

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Giải thưởng
2007 TV Writers Association: Top Rookie Singer Award
2009 The 10th Korea Visual Arts Festival: Photogenic Awards
The 1st Melon Music Awards: Top 10 Artists
2010 The 16th Republic of Korea Entertainment Arts Awards: Male Ballad Singer Award
2011 The 26th Golden Disk Awards: Digital Music Bonsang ("My Heart beating")
2012 Gaon Chart K-Pop Awards: Singers of the Year Award (March)
Soompi Gayo Awards: Top 10 Artists - #8
Soompi Gayo Awards: Top 50 Songs - #4 "이러지마 제발 ("Please Don’t")"
Soompi Gayo Awards: Top Male Singer - Gold "이러지마 제발 ("Please Don’t")"
14th Mnet Asian Music Awards: Best Vocal Performance - Solo ("I Need You")
4th Melon Music Awards: Music Style Award - Best R&B/Ballad ("Please Don’t")
2013 27th Golden Disk Awards: Digital Music Bonsang ("I Need You")

Chương trình âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Music Bank[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Ngày Bài hát
2012 2 tháng 3 "I Need You"
2013 19 tháng 4 "Love Blossom"

Inkigayo[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Ngày Bài hát
2011 3 tháng 4 "My Heart Is Beating"

M! Countdown[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Ngày Bài hát
2012 25 tháng 10 "Please Don't"
1 tháng 11

Show Champion[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Ngày Bài hát
2013 17 tháng 4 "Love Blossom"
24 tháng 4

Music Triangle[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Ngày Bài hát
2012 31 tháng 10 "Please Don't"

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ arirangworld, arirangworld,. “(Pops in Seoul) K-will (케이윌) 눈물이 뚝뚝, 1초에 한방울”. youtube. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2009. 
  2. ^ 신, 수연. “(인터뷰) 가수 케이윌, 학창시절 독서실서 쫓겨나 ‘노래 부르다 보니’ ① 한국재경신문”. jknews (bằng tiếng Triều Tiên). Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2009. 
  3. ^ Yi, Hae-won. “R&B singer K.WILL would do anything to sing, whether it meant performing on sidewalks or singing backup to more famous artists.”. The Junior Herald.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp);

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]