Kakha Kaladze

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Kakhaber Kaladze)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Kakha Kaladze
კახა კალაძე
Kakhaber Kaladze.jpg
Kaladze trong buổi họp báo Cúp Đường sắt Nga năm 2007
Thủ tướng Gruzia Phó
Nhậm chức
25 tháng 10 năm 2012
Vice PM Irakli Alasania
Giorgi Margvelashvili
Giorgi Kvirikashvili
Tiền nhiệm Vakhtang Balavadze
Bộ trưởng Năng lượng Gruzia thứ 4
Nhậm chức
25 tháng 10 năm 2012
Tổng thống Mikheil Saakashvili
Giorgi Margvelashvili
Thủ tướng Bidzina Ivanishvili
Irakli Garibashvili
Giorgi Kvirikashvili
Tiền nhiệm Vakhtang Balavadze
Thông tin cá nhân
Sinh Kakhaber Kaladze
27 tháng 2, 1978 (39 tuổi)
Samtredia, Gruzia, Liên Xô
Quốc tịch Gruzia
Cao 1,86 m (6 ft 1 in)
Nghề nghiệp Cầu thủ bóng đá (đã giải nghệ)
Chính khách

Hiệp hội bóng đá nghề nghiệp
Chiều cao 1,86 m (6 ft 1 in)
Vị trí Trung vệ, Hậu vệ trái
CLB chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
1993–1998 Dinamo Tbilisi 82 (1)
1998–2001 Dynamo Kyiv 71 (6)
2001–2010 A.C. Milan 194 (12)
2010–2012 Genoa C.F.C. 53 (1)
Tổng cộng 400 (20)
Đội tuyển quốc gia
1993–1994 U-17 Gruzia 2 (0)
1995 U-19 Gruzia 4 (0)
1995–1996 U-21 Gruzia 3 (0)
1996–2011 Gruzia 83 (1)
  • Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia.
† Số trận khoác áo (số bàn thắng).

Kakhaber "Kakha" Kaladze (tiếng Gruzia: კახაბერ (კახა) კალაძე [kʼaxabɛr kʼalad͡zɛ]; sinh ngày 27 tháng 2 năm 1978 tại Samtredia, Gruzia) là cựu cầu thủ bóng đá người Gruzia đã từng chơi ở vị trí hậu vệ cho câu lạc bộ AC Milan.

Kaladze tham gia vào chính trường Gruzia với tư cách đảng viên đảng Giấc mơ Gruzia–Gruzia Dân chủ đối lập do Bidzina Ivanishvili thành lập vào tháng 12 năm 2012. Anh được bầu vào Quốc hội Gruzia ngày 1 tháng 10 năm 2012 và được bổ nhiệm làm phó thủ tướng cũng như Bộ trưởng Năng lượng thuộc nội các Bidzina Ivanishvili vào ngày 25 tháng 10 năm 2012.[1]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Trước khi chuyển đến AC Milan, Kaladze đã từng chơi cho FC Dinamo Tbilisi (1993-97) và Dinamo Kiev (2000-2001). Anh là cầu thủ đắt giá nhất Gru-di-a khi chuyển đến Milan với giá chuyển nhượng 16 triệu Euro. Ở Milan anh thường chơi ở vị trí hậu vệ trái, hoặc đội khi chơi ở vị trí tiện vệ trái. Ở câu lạc bộ cũ anh thường xuyên chơi ở vị trí trung vệ. Anh xuất hiênh lần đầu khi mới 16 tuổi trong màu áo FC Dinamo Tbilisi mùa bóng 93-94. Khi chuyển tới Milan anh chơi ở vị trí hậu vệ trái cùng với Paolo Maldini, Alessandro Nesta, và Alessandro Costacurta lập thành một hang hậu vệ rắn chắc. Anh đã cùng Rossoneri giành cúp quốc gia Ý năm 2003, cúp c1 năm 2003 và năm 2007. Anh sẽ chơi cho Milan đến 2010.

Sự nghiệp quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Kaladze xuất hiện lần đầu ở đội tuyển quốc gia trong trân gặp Síp năm 1996. Anh từng bị đe dọa phải rời khỏi đội tuyển khi em trai anh bị bắt cóc. Anh được bầu chọn là cầu thủ hay nhất Gruzia năm 2001 và 2002.

Các danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

A.C. Milan[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Ivanishvili Confirmed as Prime Minister”. Civil Georgia. 25 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2012.