Kamen Rider Kiva

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Kamen Rider Kiva
KR Kiva Title Card.jpg
Logo chính thức của Kamen Rider Kiva
Thể loại
Sáng lậpIshinomori Shotaro
Kịch bản
Đạo diễn
Diễn viên
Lồng tiếngSugita Tomokazu
Dẫn chuyện
Nhạc phimShuhei Naruse
Nhạc dạo"Break the Chain" by Tourbillon (band)
Nhạc kết
  • "Destiny's Play"
  • "Individual-System"
  • "Shout in the moonlight"
  • "Innocent Trap"
  • "Supernova"
  • "Roots of the King" by Tetra-Fang
  • "Fight for Justice" by Keisuke Nago
Phụ hòa âmTsuneyoshi Saito
Quốc giaNhật Bản
Số tập48 (Danh sách chi tiết)
Sản xuất
Nhà sản xuất
Thời lượng24–25 phút
Công ty sản xuấtĐông Ánh Châu Thức Hợp Xã
Nhà phân phốiĐông Ánh Châu Thức Hợp Xã
Trình chiếu
Kênh trình chiếuTV Asahi
Định dạng hình ảnh1080i (HDTV)
Phát sóng27 tháng 1, 2008 (2008-01-27) – 18 tháng 1, 2009 (2009-01-18)
Thông tin khác
Chương trình trướcKamen Rider Den-O
Chương trình sauKamen Rider Decade
Liên kết ngoài
Trang mạng chính thức

Kamen Rider Kiva  (仮面ライダーキバ, Kamen Raidā Kiba?Masked Rider Kiva) là một series truyền hình Nhật Bản thuộc thể loại Tokusatsu. Đây là phần phim thứ 18 trong loạt phim Kamen Rider và là phần phim thứ 9 của thời Heisei, được sản xuất bởi Toei CompanyIshinomori Production. Series là một phần của Super Hero Time cùng với Engine Sentai Go-Onger, được công chiếu từ ngày 27 tháng 1 năm 2008, sau khi Kamen Rider Den-O kết thúc. Bộ phim lấy cảm hứng từ Thiên Chúa giáo, có motif là ma cà rồng. Trong tập đầu tiên có một phân cảnh kỷ niệm 70 năm ngày sinh của Ishinomori Shotaro, người sáng lập Ishinomori Production.

Phim được chiếu tại Việt Nam trên kênh VTC9 - Let's Viet với tên gọi Cuộc chiến quái vật.

Nội dung[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ phim kể về Kurenai Wataru, một cậu thanh niên nhút nhát, rụt rè, bị dị ứng với thế giới. Cậu sống một mình trong căn nhà của cha cậu, Kurenai Otoya để lại. Tuy nhiên, cậu là người được định mệnh lựa chọn trở thành Kamen Rider Kiva, chiến đấu chống lại những quái vật có tên gọi Fangire. Thế nhưng không phải chỉ có mình cậu chống lại Fangire, một tổ chức mang tên Aozora cũng tìm kiếm và tiêu diệt những con quái vật ấy bằng một Rider mang tên Kamen Rider IXA, một Rider đem lòng thù hận với Kiva. Câu chuyện được kể song song giữa hai mốc thời gian là 1986 và 2008. Trong quá khứ, cha của Wataru, Kurenai Otoya là một thành viên của Aozora và cũng chiến đấu chống lại các Fangire.

Nhân vật[sửa | sửa mã nguồn]

Các Rider chính[sửa | sửa mã nguồn]

Trong TV Series

Kamen Rider Kiva Kurenai Wataru
Kamen Rider Ixa Jiro ►◄ Kurenai Otoya (1986)
Nago Keisuke ►◄ Eritate Kengo (2008)
Kamen Rider Saga Nobori Taiga
Kamen Rider Dark Kiva King ► Kurenai Otoya (1986)
Nobori Taiga (2008)

Trong movie:

Kamen Rider Rey Shiramine Takato
Kamen Rider Arc Sugimura Takashi

Các nhân vật của năm 2008[sửa | sửa mã nguồn]

  • Kurenai Wataru (紅 渡) - Kamen Rider Kiva (仮面ライダーキバ, Kamen Raidā Kiba): một cậu thanh niên nhút nhát, rụt rè, bị dị ứng với thế giới. Cậu không bao giờ tiếp xúc với bất cứ ai trừ cô bạn hàng xóm Shizuka và chú dơi Kivat đệ tam. Cậu có ước mơ chế tạo ra một chiếc Violin hoàn hảo như cha mình, vì vậy cậu luôn đi tìm kiếm nguyên liệu để đánh bóng Violin. Nhưng mỗi khi cậu nấu một cái gì để đánh bóng Violin thì sẽ có một thứ mùi vô cùng kinh khủng bốc lên, điều này khiến hàng xóm xung quanh vô cùng khó chịu, cộng thêm tính cách có phần lập dị nên cậu được hàng xóm đặt biệt danh Obaketaro (お化け太郎, Obaketarō, tạm dịch là thằng nhóc ma quỷ). Nhờ có Megumi mà sau này cậu đã tiếp xúc được với thế giới bên ngoài. Thân phận thực sự của cậu là một bán Fangire, con của Kurenai Otoya và nữ hoàng Fangire tiền nhiệm Maya. Wataru được lựa chọn trở thành Kamen Rider Kiva để chiến đấu chống lại các Fangire.
  • Nago Keisuke (名護 啓介) - Kamen Rider IXA (仮面ライダーイクサ, Kamen Raidā Ikusa): là thành viên của tổ chức Aozora, là người sử dụng chính của hệ thống IXA. Anh là một thợ săn tiền thưởng, mỗi khi bắt được một tên tội phạm anh đều lấy một chiếc nút áo để làm kỷ niệm. Anh vô cùng căm ghét Kiva, cho rằng Kiva phải bị tiêu diệt. Tuy nhiên, sau khi biết được thân phận thật của Kiva là Wataru, anh nhận ra sức mạnh của Kiva đang được sử dụng cho mục đích tốt. Mối tình đầu của anh là Maya, mẹ của Wataru. Anh gặp được Maya khi quay về quá khứ để thay đổi một việc và đã trao cho Maya chiếc cúc áo đầu tiên khi anh làm thợ săn tiền thưởng làm "vật may mắn". Sau này anh kết hôn với Megumi.
  • Asou Megumi (麻生 恵): một người mẫu nổi tiếng, đồng thời là một thành viên của tổ chức Aozora. Mẹ cô, Asou Yuri, cũng từng là thành viên của Aozora vào 22 năm về trước. Giống như mẹ mình, cô cũng vô cùng căm ghét Fangire. Chính Megumi đã giúp Wataru chữa khỏi căn bệnh "dị ứng với thế giới" kỳ quặc của cậu, giúp cậu bước đầu hòa nhập với cộng đồng. Trong tổ chức Aozora, cô và Nago giống như nước với lửa, luôn luôn xảy ra xích mích với nhau, thế nhưng sau này cô lại kết hôn với Nago. Vũ khí mà cô sử dụng là một khẩu súng nhỏ có thể bắn ra một dây xích dài, giúp cô chiến đấu với Fangire.
  • Nomura Shizuka (野村 静香): hàng xóm của Wataru và một người bạn thân của cậu. Cô là một số ít người biết được về dơi KIvat đệ tam ngay từ đầu, cho dù không biết Wataru là Kiva cho đến tận tập cuối. Cô luôn bảo vệ cho Wataru khỏi những rắc rối đời thường, tỏ ra ghen tị khi thấy Wataru hẹn hò với Mio và cho rằng Wataru không thích Mio nhưng vẫn đi chơi chung. Sau khi biết được tình cảm thật sự của hai người, Shizuka đã tác thành cho họ.
  • Eritate Kengo (襟立 健吾): một tay chơi guitar đến từ Tokyo. Cậu vô cùng đam mê guitar và nhạc rock, đã từng thành lập một ban nhạc rock nhưng ban nhạc đó đã tan rã. Cậu đã thuyết phục Wataru và Shizuka vào ban nhạc của mình, đồng thời bái sư Nago vì ngưỡng mộ anh. Sau này, khi bị gãy tay và không thể tiếp tục sự nghiệp nhạc rock được nữa, cậu được Shima Mamoru - người đứng đầu tổ chức Aozora thu nhận và luyện tập trở thành một thợ săn Fangire, cũng từ đó cậu biến mất một khoảng thời gian. Khi xuất hiện lại, cậu đã thay thế Nago trở thành người sử dụng IXA, đối xử vộ cùng lạnh lùng với mọi người, nhất là với Wataru vì cho rằng tình cảm của Wataru dành cho mình ngày ấy là giả tạo. Sau này, Kengo bị buộc trả lại Ixa cho Nago do như lời Shima nói, cậu đã vứt bỏ sự kiềm chế của bản thân để giành được sức mạnh, vì vậy cậu không xứng có nó. Lời nói này đã khiến cậu tỉnh ngộ, quay lại làm lành với tất cả mọi người và cầu xin Wataru quay lại chiến đấu, nhưng lúc này Wataru đã quyết tâm không bao giờ chiến đấu nữa vì nghĩ rằng một kẻ như cậu thì không thể sống chung với bất cứ ai, kể cả con người hay Fangire. Khi Nago và Megumi tổ chức đám cưới, cậu đã cùng Shima đến dự và đem quà cưới tới.
  • Suzuki Mio (鈴木 深央): một cô gái nhút nhát, rụt rè, có tính cách khá giống với Wataru. Khi hai người mới gặp nhau, vì sự vụng về của mình mà Mio bị sa thải khỏi nơi làm việc, Wataru đã trò chuyện với cô và nhận ra rằng hai người có tính cách vô cùng hợp nhau, dần dần hai người đã phải lòng nhau. 22 năm sau khi Queen đời trước, Maya bị phế do làm trái luật lệ của tộc Fangire, Mio đã được lựa chọn trở thành Queen kế tiếp, và nhiệm vụ của cô là diệt trừ những Fangire dám đem lòng yêu loài người, tuy nhiên ban đầu cô không thể xuống tay do sợ hãi. Theo luật lệ của tộc Fangire, Queen phải kết hôn với King, chính vì vậy vị hôn phu của cô là Taiga - King thời nay. Là một Fangire, cô không được phép đem lòng yêu loài người, điều này đã khiến cô vô cùng dằn vặt vì cô rất yêu Wataru. Theo lời của Bishop, cô cần phải tiêu diệt Kiva để bảo vệ cho tộc nhân. Khi biết được Wataru là Kiva, cô đã nói với cậu rằng hãy giết Taiga và lên làm vua, nhưng Wataru từ chối, vì vậy cô lập mưu giết Taiga ngay trong ngày cưới. Tuy bị thương nhưng Taiga vì yêu Mio nên vẫn bảo vệ cô trước những lời buộc tội của Bishop, chính vì vậy mà khi thấy Taiga sắp trúng chiêu tất sát của Wataru, cô đã ra đỡ đòn cho Taiga để rồi chết trong tay Wataru. Điều này khiến Wataru dằn vặt vô cùng vì nghĩ rằng chính cậu đã giết Mio, nhưng thực ra Mio bị Bishop giết để khích tướng Taiga xuống tay với Wataru.
  • Nobori Taiga (登 太牙) - Kamen Rider Saga (仮面ライダーサガ, Kamen Raidā Saga) và sau này là Kamen Rider Dark Kiva (仮面ライダーダークキバ Kamen Raidā Dāku Kiba): con trai cả của Maya, anh trai cùng mẹ khác cha với Wataru, King của tộc Fangire thời hiện tại. Khi còn nhỏ, anh gặp Wataru khi cậu bị một đám nhóc trêu chọc, anh đã ra tay đuổi đám nhóc đó đi, kể từ đó hai người trở thành bạn thân. Vào thời điểm hiện tại, Taiga là một chủ tịch công ty đầu tư, chuyên đầu tư vào các dự án giúp cho con người phát triển, tiến hóa lên một tầm cao mới. Thực ra đây chỉ là vỏ bọc cho thân phận và nhiệm vụ của King - tiêu diệt những kẻ đẩy nhanh quá trình tiến hóa của loài người để loài người không vượt trội hơn Fangire. Giống Wataru, anh cũng yêu Mio và anh vô cùng hạnh phúc khi nghe Mio muốn cưới mình. Dù trong lễ cưới anh bị Mio ám sát nhưng anh vẫn bảo vệ cô. Khi Mio bị giết, Taiga thù hận Wataru vì cho rằng Wataru đã giết Mio, hơn nữa vì bị thua Kiva nên anh đã bị bãi chức chủ tịch. Sau đó, Taiga đến gặp Maya để lấy sức mạnh Dark Kiva và chiến đấu với Wataru. Khi biết Wataru đã xưng vương để bảo vệ mình, anh đã đứng chung chiến tuyến với cậu.
  • Dơi Kivat đệ tam (キバットバットⅢ世, Kibattobatto Sansei): đời thứ ba của gia tộc dơi Kivat, đi theo Wataru khi cậu được chọn làm Kiva. Kivat vừa là thiết bị biến hình, vừa là chiến hữu, vừa là bạn thân của Wataru.
  • Tatsulot (タツロット,Tatsurotto): một chú rồng nhỏ màu vàng kim, là thiết bị giúp Kiva lên hình dạng tối thượng, Kiva Emperor.

Các nhân vật của năm 1986[sửa | sửa mã nguồn]

  • Kurenai Otoya (紅 音也): cha của Wataru, một nhà vĩ cầm tài hoa và là thành viên tổ chức Aozora. Là một nhà vĩ cầm tài hoa với tài chơi violin đạt đến mức hoàn hảo, thế nhưng anh lại không trở thành một nhà vĩ cầm nổi tiếng vì một lý do nào đó. Otoya rất đào hoa, mỗi khi đi đường là phải tán vài cô cho bằng được, mà đã vậy cô nào cũng đổ, nhưng đằng sau tính cách đào hoa ấy là một con người có nội tâm sâu sắc, có những suy nghĩ đầy sâu xa. Anh gặp Yuri khi cô đang làm nhiệm vụ, và từ đó hai người thành oan gia với nhau, sau đó nảy sinh tình cảm với nhau. Anh là người đầu tiên phát hiện ra Jiro không phải con người mà là tộc nhân cuối cùng còn sót lại của tộc Wolfen, một chủng tộc đã bị Rook - một trong Checkmate Four của tộc Fangire tiêu diệt, đồng thời là người thứ hai sử dụng Proto IXA sau Jiro. Sau này, anh gặp Maya, Queen Fangire thời điểm đó và hai người nhanh chóng phải lòng nhau. Điều này đã khiến King Fangire lúc đó phẫn nộ, bắt anh đến Castle Doran, giam giữ và biến anh thành thức ăn cho lâu đài. Khi đó, cùng sự trợ giúp của Wataru đang xuyên thời gian về năm 1986, Yuri và Maya đã giải cứu thành công cho Otoya. Khi thoát ra ngoài anh đã sử dụng sức mạnh của Kivat đệ nhị để biến thành Dark Kiva và cùng Wataru chống lại King. Tuy nhiên, do sử dụng quá nhiều lần mà cơ thể anh đã đến cực hạn. Biết mình không sống được bao lâu nữa, anh đến gặp Yuri lần cuối, dặn dò nhóm Jiro chiếu cố cho con trai mình rồi mất trong vòng tay của Maya. Trước khi ra đi, anh và Maya đã hoàn thành cây đàn vĩ cầm Bloody Rose và để lại cho Wataru như một kỷ vật.
  • Asou Yuri (麻生 ゆり): một trong số những thành viên sáng lập của tổ chức Aozora, mẹ của Megumi. Cô vô cùng căm ghét Fangire, cho rằng sự tồn tại của chúng là một sai lầm của Chúa, một phần của sự căm ghét ấy cũng đến từ việc mẹ cô, Asou Akane, một trong số những người đầu tiên chế tạo hệ thống Ixa bị Rook giết. Cô gặp Otoya một cách rất tình cờ khi đang truy bắt Fangire, từ đó hai người trở thành oan gia rồi dần phải lòng nhau. Khi Otoya gặp Maya và dần dần phải lòng cô, Yuri vô cùng ghen tị. Yuri cũng là người đầu tiên khám phá ra thân phận thật của Maya và cố gắng tiêu diệt Maya, nhưng sau này hai người lại hợp tác để cứu Otoya ra khỏi Castle Doran. Yuri rất sợ chú chó Buruman của quán Cafe mald'amour, nhưng cô đã vượt qua được nỗi sợ ấy khi đi tìm Buruman vào một ngày mưa. Và vào ngày mưa ấy, cô đã gặp Otoya một lần cuối cùng để rồi òa khóc khi từ biệt.
  • King tiền nhiệm (キング, Kingu): cha của Taiga, kẻ thống trị tộc Fangire đời trước. Hắn chỉ có một người vợ, Maya và một cậu con trai, Taiga. Khi phát hiện Maya qua lại với Otoya, hắn đã đánh cho Otoya một trận rồi đem về Castle Doran, làm Maya và Yuri phải hợp tác (có sự trợ giúp của Wataru, lúc này đang xuyên về quá khứ năm 1986) để cứu Otoya. Hắn bị Wataru và Otoya, lúc này đang dùng Dark Kiva đánh bại. Trước khi chết, sức mạnh của King đã chọn con hắn Taiga làm vua kế tiếp và hắn nói rằng, một ngày nào đó con trai hắn sẽ giết hết bọn họ.
  • Dơi Kivat đệ nhị (キバットバットⅡ世, Kibattobatto Nise): đời thứ hai của gia tộc dơi Kivat, cha của dơi Kivat đệ tam, là cộng sự của King tiền nhiệm. Tuy nhiên, do không thích những hành động mà King làm với Maya, Kivat đệ nhị đã giúp đỡ Otoya trở thành Kamen Rider Dark Kiva, nhưng với một lời cảnh báo nếu như sử dụng quá nhiều thì Otoya sẽ chết vì anh chỉ là con người thuần túy. Sau khi King chết, sức mạnh của Dark Kiva và dơi Kivat đệ nhị được Maya bảo quản và đến năm 2008, sức mạnh này đã chọn Taiga làm Dark Kiva mới.

Các nhân vật khác[sửa | sửa mã nguồn]

Các nhân vật này xuất hiện ở cả hai thời điểm năm 1986 và 2008, duy có một người xuất hiện từ tương lai.

Shima Mamoru (嶋 護): người sáng lập của tổ chức Hòa bình Aozora (素晴らしき青空の会, Subarashiki Aozora no Kai), chuyên tìm kiếm và tiêu diệt Fangire bảo vệ loài người. Ông thường xuyên đến phòng tập Gym, mọi mệnh lệnh với Nago và Megumi đều từ đây mà ra. Ông là bạn thân với chủ quán Café mald'amour, hai người thường xuyên so sánh lượng mỡ trong cơ thể với nhau. Khi trước, theo lời ủy thác của Maya, ông đã thu nhận Taiga, nhưng trong một lần Taiga bộc phát sức mạnh đã khiến ông bị thương ở lưng, từ đó ông luôn cho rằng con người và Fangire không thể sống chung hòa hợp. Khi ông trở thành Fangire, Taiga đã cứu sống ông. Chính vì vậy, ông đã đến gặp Wataru và yêu cầu cậu hãy bảo vệ cho Taiga, vì ngai vàng của anh đang bị đe dọa. Cuối phim, ông cùng Kengo phụ trách đem quà cưới đến lễ kết hôn của Nago - Megumi.

Kido Akira (木戸 明): chủ quán Café mald'amour (カフェ・マル・ダムール, Kafe Maru Damūru), bạn thân của Shima, luôn ganh đua về lượng mỡ trong cơ thể mỗi khi hai người gặp mặt (và hầu hết thì chủ quán thua). Ông có một chú chó tên Buruman, chú chó này có vẻ rất thích Otoya. Ông là một số ít người đầu tiên phát hiện ra Wataru là con trai Otoya. Ông còn là người hâm mộ của nhóm nhạc idol nữ nổi tiếng của thập niên 80 ở Nhật, Onyanko Club. Vào cuối phim, do ốm nên ông không thể đến tham dự lễ cưới của cặp Nago - Megumi, ông nhờ Shima và Kengo đem quà cưới đến. Lúc này Buruman đang ốm nên ông ôm một con chó đen tên Sayuri.

Các Arms Monsters (アームズモンスター, Āmuzu Monsutā): là những tộc nhân còn sót lại của các bộ tộc quái vật bị tộc Fangire tiêu diệt. Bọn họ đều có quan hệ với Otoya, vì vậy trước khi mất Otoya đã nhờ họ sau này hãy giúp đỡ con trai mình. Họ từng bị King Fangire biến thành những món đồ trang trí trong Castle Doran và được Otoya cứu, nhưng sau đó họ vẫn ở lại Castle Doran để kiềm chế nó. Sau này khi mọi chuyện đã kết thúc, họ có tham dự lễ cưới của Nago và Megumi. Có ba Arms Monsters xuất hiện trong phim, bao gồm:

  • Jiro (次狼): nhân dạng của Garulu (ガルル, Garuru), tộc nhân cuối cùng còn sót lại của tộc Wolfen (ウルフェン族, Urufen Zoku). Toàn bộ tộc Wolfen đã bị Rook - một trong Checkmate Four tiêu diệt trong trò chơi của hắn, trừ Jiro. Vào năm 1986, Jiro thường xuyên lui tới quán Café mald'amour do vô cùng yêu thích cafe ở đây và đã gặp gỡ Yuri và Otoya. Jiro bắt đầu tấn công những khách quen của quán, tuy nhiên đã dừng lại do lo sợ bại lộ thân phận thực, nhưng sau đó vẫn bị Otoya phát hiện. Sau này Jiro gia nhập tổ chức Aozora và trở thành người đầu tiên sử dụng hệ thống IXA. Jiro đã cầu hôn Yuri, một phần vì yêu và một phần để duy trì nòi giống, nhưng sau này Yuri đã chọn ở bên Otoya. Khi phát hiện ra hành tung của Rook, Jiro cùng với hai quái vật còn lại đã tới gặp Otoya và Yuri và yêu cầu họ giúp đỡ, tuy nhiên họ không đánh bại hoàn toàn được hắn mà chỉ khiến hắn ngủ say. Sau này khi chạm trán King, Jiro bị phong ấn dưới dạng Garulu Saber (ガルルセイバー, Garuru Seibā) cùng với hai quái vật còn lại nhưng được Otoya cứu. Trước khi ra đi, Otoya đã nhờ cậy bọn họ giúp đỡ con trai mình. Vào năm 2008, Jiro thường được Wataru triệu gọi dưới hình dạng Garulu Saber để cho ra Kiva Garulu Form (ガルルフォーム, Garuru Fōmu). Ngoài ra Jiro còn giúp Nago và Wataru quay về quá khứ, cứu Wataru khi cậu gặp nguy.
  • Ramon (ラモン): nhân dạng của Basshaa (バッシャー, Basshā), tộc nhân cuối cùng còn sót lại của tộc Merman (マーマン族, Māman Zoku). Vào năm 1986, Ramon sống trong thế giới loài người, làm công việc message chui để che giấu thân phận. Sau này khi bị cưỡng chế đuổi đi, cậu cùng Riki đến làm việc ở Café mald'amour, khi Jiro quyết định rời khỏi thành phố thì đi bán kakigori. Giống như Jiro, cậu cũng bị King phong ấn dưới dạng Basshaa Magnum (バッシャーマグナム, Basshā Magunamu). Nắm 2008, cậu được Kiva triệu hồi dưới dạng Basshaa Magnum để cho ra Kiva Basshaa Form (バッシャーフォーム, Basshā Fōmu).
  • Riki (力(リキ)): nhân dạng của Dogga (ドッガ), tộc nhân cuối cùng của tộc Franken (フランケン族, Furanken Zoku). Không hoạt ngôn như Jiro hay Ramon, Riki rất ít nói và nói rất chậm. Riki sống cùng Ramon và sau này cũng đến Café mald'amour làm việc, đem lòng yêu Yuri sau khi ăn thức ăn cô nấu. Khi Jiro rời đi, Riki cùng với Ramon đi bán kakigori và bị King phong ấn dưới dạng Dogga Hammer (ドッガハンマー, Dogga Hanmā). Năm 2008, Riki được Kiva triệu hồi dưới dạng Dogga Hammer để cho ra Kiva Dogga Form (ドッガフォーム, Dogga Fōmu).

Maya (真夜): Queen Fangire đời trước (năm 1986), có dấu ấn của Queen trong lòng bàn tay. Nhiệm vụ của cô là đi tìm những Fangire phản bội đem lòng yêu loài người và tiêu diệt chúng. Cô và King đời trước có một đứa con trai, Nobori Taiga. Maya đã sống hàng trăm năm, từng được Antonio Vivaldi nhận làm học trò, kể từ đó đem lòng yêu thích đối với nghệ thuật của loài người. Sau khi Vivaldi mất, cô không tìm ra được một con người nào giống ông cho đến khi gặp Kurenai Otoya. Otoya ban đầu không hề biết thân phận thực của Maya cho đến khi cô lộ chân thân trong trận chiến với các Arms Monsters. Vốn dĩ khi biết được Maya là Fangire, Otoya phải giết cô nhưng anh đã không làm vậy. Hai người đã tạo ra cây vĩ cầm Bloody Rose. Khi Otoya nói rằng hai người họ không thể gặp nhau nữa, Maya không đồng ý vì lúc này cô đã thực sự yêu anh, vì vậy mà khi cứu Otoya ra ngoài, cô đã bị King phế truất, mất đi sức mạnh và danh xưng Queen, bị các Fangire khác truy đuổi. Sau khi King chết, Maya đã ở bên Otoya cho đến phút cuối cùng. Hai người có một đứa con, chính là Wataru. Khi Wataru đã trở thành một đứa trẻ, Maya đưa cậu về căn nhà của Otoya để cậu bắt đầu cuộc sống mới ở đó, dặn dò cậu tuyệt đối đừng nhớ về mình và hãy trở nên mạnh mẽ. Kể từ đó Maya gần như biến mất, nơi ở của cô vào thời điểm hiện tại (năm 2008) chỉ có mình Bishop biết. Chính Bishop đã khuyên Mio đến tìm Maya để xin lời khuyên. Sau đó Taiga đã đến và đem theo cả Wataru tới. Dù cho không còn là Queen, Maya vẫn nắm giữ sức mạnh của Dark Kiva với tư cách Queen tiền nhiệm.

Rook (ルーク, Rūku): một trong bốn thành viên của Checkmate Four, bốn thành viên quan trọng và cao cấp nhất của tộc Fangire. Hắn là kẻ thù không đội trời chung với hai mẹ con Yuri - Megumi và Jiro. Do luôn chán chường nên hắn đã tự tạo ra trò chơi cho mình, trò chơi này có giới hạn thời gian. Nếu như hắn hoàn thành trò chơi đúng thời hạn, hắn sẽ tự thưởng cho mình một cốc parfait, còn nếu thất bại hắn sẽ trừng phạt mình bằng một dòng điện chạy qua thân thể (dòng điện này đủ sức khiến một con người khỏe mạnh chết ngay tức khắc). Vào năm 1986, hắn đã bị Yuri đánh bại, tuy nhiên hắn không chết hoàn toàn mà chỉ bị thương ở vai và ngủ say suốt 22 năm. Đến năm 2008, khi hắn thức tỉnh thì hắn không hề nhớ gì về bản thân, ngồi bên cạnh dòng suối chảy xiết và sắp bị cuốn đi, tuy nhiên Wataru và Shizuka đã cứu mạng hắn. Hai người đặt cho hắn một cái tên, Dai-chan (大ちゃん) dựa trên hình thể to lớn của hắn. Tuy nhiên không lâu sau Dai-chan lại thức tỉnh trở thành Rook, và sau 22 năm, hắn đã bị Megumi giết chết bằng cách nhắm vào vết thương trên vai mà Yuri đã gây ra cho hắn năm xưa.

Bishop (ビショップ, Bishoppu): một trong bốn thành viên của Checkmate Four thuộc tộc Fangire, có nhiệm vụ quản lý mọi chuyện trong tộc, kể cả những luật lệ lâu đời. Vào năm 1986, hắn là cánh tay phải đắc lực của King tiền nhiệm, ngoài công việc của bản thân hắn còn báo cáo hành tung của Maya cho King. Vào năm 2008, hắn xuất hiện trước mặt Mio, nhắc nhở cô về nhiệm vụ của Queen. Khi biết Wataru là Kiva, cảm thấy cậu cũng chính là mối nguy với Fangire như Otoya, hắn ngoài mặt thì tuân theo lệnh Taiga, tìm cách đưa cậu trở thành cánh tay phải cho Taiga, nhưng lại ngấm ngầm tiêu diệt Mio để đổ lỗi cho Wataru khi thấy Mio ám sát Taiga. Taiga sau khi biết hắn đã giết Mio thì vô cùng phẫn nộ và đuổi hắn đi. Vô cùng tức giận khi một tấm lòng trung thành không được hồi đáp, hắn đã thu thập năng lượng sống của loài người để hồi sinh một vị vua khác, một vị vua mà theo hắn là có đủ tư cách lãnh đạo Fangire. Sau này hắn bị Ixa giết chết, trước khi chết hắn đã đem chút sinh mệnh lực còn sót lại để hòa nhập vào người tên vua đã được hắn hồi sinh.

Kurenai Masao (紅 正夫): con trai Wataru đến từ tương lai 22 năm sau. Cậu ta trông giống Otoya đến mức khi xuất hiện đã khiến Wataru và nhóm Jiro vô cùng ngạc nhiên. Masao quay về quá khứ tìm Wataru để nhờ cậy cha mình cùng ngăn chặn lũ Neo-Fangire (ネオファンガイア, Neo Fangaia) cùng từ tương lai quay về phá hoại hiện tại. Là con trai Wataru, Masao cũng có thể biến thành Kamen Rider Kiva nhờ dơi Kivat đệ tứ (キバットバットⅣ世, Kibattobatto Yonsei), con của dơi Kivat đệ tam.

Danh sách tập phim[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Định mệnh: Thức tỉnh! (運命・ウェイクアップ, Unmei: Weiku Appu!).
  2. Dàn nhạc: Violin của hai cha con (組曲・親子のバイオリン, Kumikyoku: Oyako no Baiorin).
  3. Anh hùng: Thợ săn hoàn mỹ (英雄・パーフェクトハンター, Eiyū: Pāfekuto Hantā).
  4. Ảo tưởng: Màu lam hoang dại (夢想・ワイルドブルー, Musō: Wairudo Burū).
  5. Trận đấu: Kẻ nghe lén (二重奏・ストーカーパニック, Nijūsō: Sutōkā Panikku).
  6. Lặp lại: Bên trong mỗi người đều có âm nhạc (リプレイ・人間はみんな音楽, Ripurei: Ningen wa Minna Ongaku).
  7. Tán dương: Ba ngôi sao tỏa sáng dưới màn đêm (讃歌・三ツ星闇のフルコース, Sanka: Mitsuboshi Yami no Furukōsu).
  8. Linh hồn: Lâu đài rồng thức tỉnh (ソウル・ドラゴン城、怒る, Sōru: Doragon-jō, Ikaru).
  9. Âm vang: IXA Fist On (交響・イクサ・フィストオン, Kōkyō: Ikusa, Fisuto On).
  10. Điệu nhảy của thanh kiếm: Giai điệu của thủy tinh (剣の舞・硝子のメロデ, Tsurugi no Mai: Garasu no Merodi).
  11. Phiêu bạt: Cánh cửa của sự hy vọng (ローリングストーン・夢の扉, Rōringu Sutōn: Yume no Tobira).
  12. Buổi biểu diễn đầu tiên: Tốc độ vàng (初ライブ・黄金のスピード, Hatsu Raibu: Ōgon no Supīdo).
  13. Chưa hoàn thành: Trận chiến của người cha (未完成・ダディ・ファイト, Mikansei: Dadi Faito)
  14. Sự oai nghiêm: Đôi mắt ánh tím đầy căm phẫn (威風堂々・雷撃パープルアイ, Ifū Dōdō: Raigeki Pāpuru Ai).
  15. Tái sinh: Checkmate Four (復活・チェックメイトフォー, Fukkatsu: Chekkumeito Fō).
  16. Người chơi: Luật lệ tà ác (プレイヤー・非情のルール, Pureiyā: Hijō no Rūru).
  17. Bài học: Con đường của bản thân tôi (レッスン・マイウェイ, Ressun: Mai Wei).
  18. Bộ tứ: Hãy lắng nghe giọng nói vang trong tim mình (カルテット・心の声を聴け, Karutetto: Kokoro no Koe o Kike).
  19. Sự hòa hợp: Giông tố kéo đến (フュージョン・オーラの嵐, Fyūjon: Ōra no Arashi).
  20. Dạ khúc: Cứu tinh của tình yêu (夜想曲・愛の救世主, Yasōkyoku: Ai no Kyūseishu).
  21. Hoang tưởng: Chiếc nhẫn bằng chì (ラプソディー・指輪の行方, Rapusodī: Yubiwa no Yukue).
  22. Khúc dạo đầu: Định mệnh giao nhau (序曲・運命の交差点, Jokyoku: Unmei no Kōsaten).
  23. Biến tấu: Không ngừng chạy trốn (変奏曲・永遠の逃亡者, Hensōkyoku: Eien no Tōbōsha).
  24. Hoàng Đế: Cơn sốt vàng kim (皇帝・ゴールデンフィーバー, Kōtei: Gōruden Fībā).
  25. Phô trương: Nữ hoàng thức tỉnh (ファンファーレ・女王の目醒め, Fanfāre: Joō no Mezame).
  26. Hòa nhịp nhạc: Ký ức màu nhiệm (メトロノーム・記憶のキセキ, Metoronōmu: Kioku no Kiseki).
  27. Thập niên 80: Rising Blue nổi giận (リクエスト・時を変える戦い), Eitīzu: Ikareru Raijingu Burū).
  28. Lời đề nghị: Chiến đấu để thay đổi tương lai (リクエスト・時を変える戦い, Rikuesuto: Toki o Kaeru Tatakai).
  29. Cuộc hành quân của những vị thánh thần: Ta chính là vua (聖者の行進・我こそキング, Seija no Kōshin: Ware koso Kingu).
  30. Mở đầu: Thân phận thật của Kiva (開演・キバの正体, Kaien: Kiba no Shōtai).
  31. Tiếng tung hô: Vì mẹ mà biến thân (喝采・母に捧げる変身, Haha ni Sasageru Henshin).
  32. Tân Thế Giới: Một Kiva khác (新世界・もう一人のキバ, Shinsekai: Mō Hitori no Kiba).
  33. Siêu thanh: Trận chiến của Saga (スーパーソニック・闘いのサガ, Sūpāsonikku: Tatakai no Saga).
  34. Tiếng ồn: Giai điệu hủy diệt (ノイズ・破壊の旋律, Noizu: Hakai no Senritsu).
  35. Sự chuẩn bị mới: Cánh hoa hồng bay (ニューアレンジ・飛翔のバラ, Nyū Arenji: Hishō no Bara).
  36. Cuộc cách mạng: Thanh kiếm huyền thoại (革命・ソードレジェンド, Kakumei: Sōdo Rejendo).
  37. Mối quan hệ tay ba: King bị hạ bệ (トライアングル・キングが斬る, Toraianguru: Kingu ga Kiru).
  38. Erlkönig: Mẹ con tái ngộ (魔王・母と子の再会, Maō: Haha to Ko no Saikai) (Chú thích: Erlkönig hay Chúa Rừng là một bài thơ của nhà thơ người Đức Johann Wolfgang von Goethe, sau này được nhà soạn nhạc người Áo Franz Schubert phổ nhạc).
  39. Tiếng hét: Anh em là mục tiêu (シャウト・狙われた兄弟, Nerawareta Kyōdai).
  40. Tái hiện: IXA bùng nổ trong tay Nago (アンコール・名護イクサ爆現, Ankōru: Nago Ikusa Bakugen).
  41. Bài hát ru: Giải phóng con tim mình (ララバイ・心を解き放て, Rarabai: Kokoro o Tokihanate).
  42. Sức mạnh tình yêu: King phẫn nộ (パワー・オブ・ラブ・王の怒り, Pawā Obu Rabu: Ō no Ikari).
  43. Lễ cưới: Giờ phút chia ly (結婚行進曲・別れの時, Kekkon Kōshinkyoku: Wakare no Toki).
  44. Vô dụng: Về gặp cha ( パンク・バックトゥ・ファーザー, Panku: Bakkutu Fāzā).
  45. Cùng cha: Lần biến thân cuối (ウィズユー・最後の変身, Wizuyū: Saigo no Henshin).
  46. Điểm dừng cuối: Vĩnh biệt, Otoya (終止符・さらば音也, Shūshifu: Saraba Otoya).
  47. Phá bỏ xiềng xích: Phục tùng ta đi! (ブレイク・ザ・チェーン・我に従え!, Bureiku za Chēn: Ware ni Shitagae!)
  48. Kết cục: Người thừa kế Kiva (フィナーレ・キバを継ぐ者, Fināre: Kiba o Tsugu Mono).

Diễn viên[sửa | sửa mã nguồn]

  • Kurenai Wataru (紅 渡): Seto Koji (瀬戸 康史)
  • Nago Keisuke (名護 啓介): Kato Keisuke (加藤 慶祐)
  • Asou Megumi (麻生 恵): Yanagisawa Nana (柳沢 なな)
  • Eritate Kengo (襟立 健吾): Kumai Kouhei (熊井 幸平)
  • Nomura Shizuka (野村 静香): Koike Rina (小池 里奈)
  • Kurenai Otoya (紅 音也): Takeda Kouhei (武田 航平)
  • Asou Yuri (麻生 ゆり): Takahashi Yu (高橋 優)
  • Shima Mamoru (嶋 護): Kanayama Tatsuhiko (金山 一彦)
  • Kido Akira (木戸 明): Kinoshita Houka (木下 ほうか)
  • Nobori Taiga (登 太牙): Yamamoto Shouma (山本 匠馬)
  • Suzuki Mio (鈴木 深央): Haga Yuria (芳賀 優里亜)
  • Jiro (次狼): Matsuda Kenji (松田 賢二)
  • Ramon (ラモン): Ogoe Yuuki (小越 勇輝)
  • Riki (力): Takigawa Eiji (滝川 英治)
  • Maya (真夜): Kagami Saki (加賀美 早紀)
  • Rook (ルーク): Takahara Tomohide (高原 知秀)
  • Bishop (ビショップ): Murata Mitsu (村田 充)
  • Dơi Kivat đệ nhị (キバットバットⅡ世), dơi Kivat đệ tam (キバットバットⅢ世): Sugita Tomokazu (杉田 智和) (lồng tiếng)
  • Tatsulot (タツロット): Ishida Akira (石田 彰) (lồng tiếng)

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền nhiệm:
Den-O
Kamen Rider
2008-2009
Kế nhiệm:
Decade