Karl H. Pribram

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Karl H. Pribram
Karl Pribram Kepler Museum Prague s.jpg
Karl Pribram ở Bảo tàng Kepler, Praha, 2010.
Sinh(1919-02-25)25 tháng 2, 1919
Vienna, Áo
Mất19 tháng 1, 2015(2015-01-19) (95 tuổi)
Virginia, Mỹ
Trường lớpĐại học Chicago (Cử nhân, 1938; Bác sĩ, 1941)
Nổi tiếng vìThuyết não bộ toàn ảnh
Phối ngẫuKatherine Neville
Trang webkarlpribram.com
Sự nghiệp khoa học
NgànhKhoa học thần kinh
Ảnh hưởng bởiSir Charles Sherrington, Karl Lashley, Dennis Gabor

Karl H. Pribram (/ˈprbræm/; tiếng Đức: [ˈpʁiːbram]; ngày 25 tháng 2 năm 1919 – ngày 19 tháng 1 năm 2015) là giáo sư tại Đại học Georgetown, Mỹ, giáo sư danh dự về tâm lý họctâm thần học tại Đại học Stanford và giáo sư ưu tú tại Đại học Radford. Được hội đồng chứng nhậnnhà giải phẫu thần kinh, Pribram đã làm công việc tiên phong về định nghĩa hệ limbic, mối quan hệ của vỏ não trán với hệ limbic, vỏ não "liên kết" cụ thể về cảm giác của thùy đỉnh và thùy thái dương, và vỏ não vận động cổ điển của bộ não con người. Ông từng làm việc với Karl Lashley tại Trung tâm Linh trưởng Yerkes mà sau này ông trở thành giám đốc. Ông là giáo sư tại Đại học Yale trong mười năm và tại Đại học Stanford trong ba mươi năm.

Đối với công chúng, Pribram được biết đến với sự phát triển của mô hình não toàn ảnh về chức năng nhận thức và đóng góp của ông trong nghiên cứu thần kinh liên tục về trí nhớ, cảm xúc, động lực và ý thức. Ông kết hôn với tác giả người Mỹ Katherine Neville.

Hình mẫu toàn ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Mô hình xử lý não bộ toàn ảnh của Pribram được mô tả trong cuốn sách của ông nhan đề Brain and Perception (Bộ não và nhận thức) xuất bản năm 1991, bao gồm phần mở rộng của công trình của ông với David Bohm. Nó nói rằng, ngoài mạch điện được thực hiện bởi các dải sợi lớn trong não, quá trình xử lý cũng xảy ra trong mạng các nhánh sợi nhỏ (ví dụ, đuôi gai) tạo thành mạng lưới, cũng như trong các trường điện động bao quanh các tua gai này "cây". Ngoài ra, quá trình xử lý xảy ra xung quanh những cây đuôi gai này có thể ảnh hưởng đến quá trình xảy ra ở những cây có tế bào thần kinh gần đó mà các đuôi gai bị quấn vào nhau nhưng không tiếp xúc trực tiếp. Bằng cách này, quá trình xử lý trong não có thể xảy ra không theo cách cục bộ. Kiểu xử lý này được Dennis Gabor, người phát minh ra ảnh toàn ký, mô tả đúng như lượng tử thông tin mà ông gọi là "holon", một khái niệm thông tin dựa trên năng lượng.

Gabor là các phép biến đổi Fourier dạng cửa sổ chuyển đổi các mẫu không gian (và thời gian) phức tạp thành các sóng thành phần mà biên độ tại các giao điểm của chúng trở nên tăng cường hoặc giảm bớt. Quy trình Fourier là cơ sở của phép toàn ảnh. Ảnh toàn ký có thể tương quan và lưu trữ một lượng lớn thông tin – và có lợi thế là phép biến đổi nghịch đảo trả về kết quả tương quan thành các mẫu không gian và thời gian hướng dẫn chúng ta điều hướng vũ trụ của mình. David Bohm đã gợi ý rằng nếu chúng ta quan sát vũ trụ mà không có các thấu kính trang bị cho kính thiên văn của chúng ta, vũ trụ sẽ xuất hiện với chúng ta dưới dạng ảnh toàn ký.

Pribram đã mở rộng cái nhìn sâu sắc này bằng cách lưu ý rằng nếu chúng ta không có thấu kính của mắt và các quá trình giống thấu kính của các thụ thể cảm giác khác của chúng ta, chúng ta sẽ đắm chìm trong trải nghiệm toàn ảnh. Theo mô hình này, não không nên lưu trữ thông tin trong các tế bào não hoặc cụm tế bào riêng lẻ, mà là theo các mẫu nhất định, tương tự như ảnh ba chiều, trong giao thoa sóng nhất định.[1] Pribram coi mô hình hoạt động toàn diện của não này là sự phát triển thêm của các giả thuyết do nhà tâm lý học Wolfgang Köhler đưa ra về đặc điểm lĩnh vực hoạt động của não.[2]

Đóng góp khác[sửa | sửa mã nguồn]

Vào cuối những năm 1940 và đầu những năm 1950, các thí nghiệm về hành vi thần kinh của Pribram đã thiết lập thành phần của hệ limbic và các chức năng điều hành của vỏ não trước trán. Pribram cũng khám phá ra các hệ thống cảm giác cụ thể của vỏ não liên kết, và chỉ ra rằng các hệ thống này hoạt động để tổ chức các lựa chọn mà chúng ta thực hiện giữa các kích thích cảm giác, chứ không phải tự cảm nhận các kích thích.

Lời kể của Pribram về cách những khám phá của ông được thực hiện trong cuốn sách The Form Within (Hình dạng bên trong) được xuất bản vào năm 2013. Nó bao gồm những câu chuyện về cuộc gặp gỡ của ông với các nhà khoa học và học giả hàng đầu trong ngày và những câu chuyện thú vị như cách ông bị mất một phần ngón tay khi bàn tay đã bị con tinh tinh Washoe đóng sầm xuống tại Đại học Oklahoma.

Năm 1999, ông là người đầu tiên giành được Giải thưởng Dagmar và Václav Havel vì sự hợp nhất giữa khoa học và nhân văn. Ông mất năm 2015 tại Virginia, thọ 95 tuổi.

Ấn phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Karl H. Pribram: Worum geht es beim holographischen Paradigma? 1988, p. 33.
  2. ^ Karl H. Pribram: Toward a holonomic theory of perception. 1975; K. Pribram: Holonomy and Structure in the Organization of Perception; 1977; Michael Stadler: Feldtheorie heute – von Wolfgang Köhler zu Karl Pribram. In: Gestalt Theory. 3 (3/4), 1981, p. 185–199.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]