Bước tới nội dung

Karl của Áo, Công tước xứ Teschen

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Karl của Áo
Công tước xứ Teschen
Chân dung do Anton Einsle vẽ.
Thông tin chung
Thông tin chung
Sinh5 tháng 9 năm 1771
Florence, Đại công quốc Toscana
Mất30 tháng 4 năm 1847(1847-04-30) (75 tuổi)
Vienna, Đế quốc Áo
An tángHầm mộ Hoàng gia, Vienna
Phối ngẫuHenriette của Nassau-Weilburg
Hậu duệ
Tên đầy đủ
Karl Ludwig Johann Josef Lorenz
Hoàng tộcHabsburg-Lorraine
Thân phụLeopold II của Thánh chế La Mã
Thân mẫuMaría Luisa của Tây Ban Nha
Tôn giáoCông giáo La Mã
Chữ kýChữ ký của Karl của Áo, Công tước xứ Teschen
Chức vụ
Binh nghiệp
Thuộc Holy Roman Empire
 Đế quốc Áo
Phục vụImperial Army
Imperial and Royal Army
Năm tại ngũ1792–1809
Cấp bậcLieutenant Field Marshal
Chỉ huyImperial and Royal Army
Tham chiến

Đại vương công Carl Ludwig Johann Joseph Laurentius của Áo, Công tước xứ Teschen (tiếng Đức: Erzherzog Carl Ludwig Johann Joseph Laurentius von Österreich, Herzog von Teschen; 5 tháng 9 năm 1771 – 30 tháng 4 năm 1847) là một thống chế người Áo, là người con thứ ba của Hoàng đế Leopold II và vợ ông, Maria Luisa của Tây Ban Nha. Ông cũng là em trai của Hoàng đế Franz II. Mặc dù bị động kinh, Charles vẫn được tôn là một vị chỉ huy và là một nhà cải cách của quân đội Áo. Ông được coi là một trong những đối thủ đáng gờm nhất của Napoléon Bonaparte.[1], đồng thời là một trong những danh tướng kiệt xuất nhất của các cuộc Chiến tranh Cách mạng PhápChiến tranh Napoléon. Karl cũng để lại nhiều một số tác phẩm quan trọng về quân sự.

Ông khởi đầu sự nghiệp quân sự trong các cuộc giao tranh với quân đội cách mạng Pháp. Trong Chiến tranh Liên minh thứ nhất, Karl giành chiến thắng tại Neerwinden năm 1793, nhưng sau đó thất bại tại Wattignies (1793) và Fleurus (1794). Năm 1796, với cương vị Tổng chỉ huy các lực lượng Áo tại mặt trận sông Rhine, Karl đánh bại tướng Jean-Baptiste Jourdan tại Amberg, Würzburg và Limburg, rồi tiếp tục chiến thắng tại Wetzlar, EmmendingenSchliengen, buộc tướng Jean Victor Marie Moreau phải rút quân qua sông Rhine. Năm 1799, ông tiếp tục giành thắng lợi trước đối phương tại Ostrach, Stockach, ZürichMannheim. Đồng thời, Karl tiến hành cải cách quân đội Áo, áp dụng nguyên tắc “quốc dân vũ trang” (nation-at-arms). Trong Chiến tranh Liên minh thứ năm năm 1809, ông trực tiếp đối đầu Napoléon và gây cho Hoàng đế Pháp thất bại lớn đầu tiên tại trận Aspern–Essling, dù sau đó bị đánh bại trong trận Wagram đẫm máu. Sau Wagram, Karl không còn tham gia những chiến dịch lớn nào khác trong các cuộc chiến Napoléon.

Về mặt chiến lược, Karl nổi tiếng với khả năng tổ chức và thực hiện những cuộc cơ động quân sự phức tạp, đầy rủi ro. Tuy nhiên, nhà lý luận quân sự đương thời Carl von Clausewitz phê phán ông vì tính cứng nhắc và sự lệ thuộc quá mức vào chiến lược mang tính “địa lý”. Dẫu vậy, trong ký ức của nhiều người Áo, Karl vẫn được tôn vinh như một anh hùng của các cuộc Chiến tranh Cách mạng Pháp và Chiến tranh Napoléon.

Tuổi trẻ và sự nghiệp ban đầu

[sửa | sửa mã nguồn]

Karl sinh ra tại Florence, xứ Toscana. Phụ thân ông, khi ấy là Đại Công tước xứ Toscana, đã rộng lượng cho phép người dì ruột không con cái của Karl là Đại Công tước phu nhân Maria Christina của Áo cùng chồng bà là Albert xứ Sachsen-Teschen nhận nuôi và giáo dưỡng ông tại Viên. Karl trải qua thời niên thiếu tại Toscana, Viên và Hà Lan thuộc Habsburg, nơi ông bắt đầu sự nghiệp quân sự trong bối cảnh các cuộc Chiến tranh Cách mạng Pháp. Năm 1792, ông chỉ huy một lữ đoàn tại trận Jemappes. Trong chiến dịch năm 1793, Karl lập được nhiều công trạng, đặc biệt tại trận Aldenhoven và trận Neerwinden. Cũng trong năm này, ông được bổ nhiệm làm Tổng trấn Hà Lan thuộc Habsburg, một chức vụ mà ông mất vào năm 1794 khi vùng Vùng Đất Thấp rơi vào tay quân cách mạng Pháp. Cùng năm được bổ nhiệm làm Tổng trấn, Karl được phong quân hàm Phó Thống chế (Lieutenant Field Marshal). Không lâu sau đó, ông tiếp tục được thăng làm Feldzeugmeister (tương đương với Trung tướng). Trong giai đoạn còn lại của cuộc chiến tại Vùng Đất Thấp, ông giữ các chức vụ chỉ huy cao cấp và có mặt tại trận Fleurus.

Năm 1795, Karl phục vụ tại mặt trận sông Rhine, và sang năm sau, ông được giao quyền tổng chỉ huy toàn bộ quân đội Áo tại chiến trường này. Cách ông điều binh khiển tướng trong các chiến dịch chống lại Jourdan và Moreau năm 1796 đã ngay lập tức đưa ông lên hàng những danh tướng xuất sắc nhất châu Âu. Ban đầu, Karl chủ trương rút lui thận trọng, tránh giao chiến quyết định; sau đó, ông bất ngờ chuyển hướng, chỉ để lại một lực lượng mỏng nhằm kiềm chế Moreau. Quay sang tấn công Jourdan, ông đánh bại đối phương trong các trận Amberg (tháng 8), Würzburg và Limburg (tháng 9), buộc quân Pháp phải rút qua sông Rhine với tổn thất nặng nề. Tiếp đó, Karl quay sang đối phó với quân của Moreau, đánh bại họ và quét sạch khỏi lãnh thổ Đức sau các trận Wetzlar, Emmendingen và Schliengen.

Chiến tranh Napoléon

[sửa | sửa mã nguồn]

Cuộc sống sau này

[sửa | sửa mã nguồn]

Hậu duệ

[sửa | sửa mã nguồn]

Huân chương & Danh dự

[sửa | sửa mã nguồn]

Tác phẩm

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Grundsätze der Kriegskunst für die Generale (1806)
  • Grundsätze der Strategie erläutert durch die Darstellung des Feldzugs 1796 (1814)
  • Geschichte des Feldzugs von 1799 in Deutschland und in der Schweiz (1819)

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ Yevgeny Tarle, Napoleon.
  2. ^ a b c d e f g "Genealogie des Allerhöchsten Herrscherhauses", Hof- und Staatshandbuch des Österreichischen Kaiserthumes, 1847, tr. VII, truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2020
  3. ^ a b "Ritter-Orden", Hof- und Staatshandbuch des Österreichischen Kaiserthumes, 1847, tr. 7, 10, truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2020
  4. ^ Bayern (1847). Hof- und Staatshandbuch des Königreichs Bayern: 1847. Landesamt. tr. 9.
  5. ^ Liste der Ritter des Königlich Preußischen Hohen Ordens vom Schwarzen Adler (1851), "Von Seiner Majestät dem Könige Friedrich Wilhelm III. ernannte Ritter" p. 17
  6. ^ Shaw, Wm. A. (1906) The Knights of England, I, London, p. 187