Kepler-10b

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
Kepler-10b
Ngoại hành tinh Danh sách hệ hành tinh
Exoplanet Comparison Kepler-10 b.png
Size comparison of Kepler-10b with Earth
Các thông số vật lý
Khối lượng(m)3.33±0.49[1] M
Bán kính(r)1.47+0.03−0.02[1] R
Khối lượng riêng(ρ)5.8±0.8[1] g cm-3
Hấp dẫn bề mặt(g)15[1] m/s²
Nhiệt độ (T) 1.833 K (1.560 °C; 2.840 °F) (day side)
50 K (−223,2 °C; −369,7 °F) (night side)[2] K
Tham số quỹ đạo
Bán trục lớn(a) 0.01684 +0.00032−0.00034[3] AU
(2.520 Gm)
Lệch tâm (e) 0[3]
Chu kỳ quỹ đạo(P) 0.837495[3] d
    (20.0999 h)
Độ nghiêng quỹ đạo (i) 84.4[3]°
Nửa biên độ (K) 3.3 +0.8−1.0[3] m/s
Thông tin phát hiện
Ngày phát hiện ngày 10 tháng 1 năm 2011
Người phát hiện Batalha et al.
Phương pháp phát hiện Transit (Kepler Mission)
Tình trạng quan sát Confirmed

Kepler-10bhành tinh đá đầu tiên được phát hiện và xác nhận ở bên ngoài Hệ Mặt Trời[4]. Nó được phát hiện sau nhiều tháng thu thập dữ liệu của nhiệm vụ Kepler do NASA điều hành, nhằm khám phá hành tinh giống Trái đất qua trước mặt ngôi sao chủ của họ, khám phá các hành tinh được công bố vào ngày 10 tháng 1 năm 2011. Kepler- 10b có khối lượng bằng 3,33 ± 0,49 so với khối lượng Trái Đất và một bán kính của 1,4 bán kính Trái Đất. Tuy nhiên, nó nằm gần ngôi sao của nó, Kepler-10, và kết quả là quá nóng để hỗ trợ cuộc sống như chúng ta biết. Sự tồn tại của nó đã được khẳng định bằng cách sử dụng các phép đo từ Đài Quan sát WM Keck ở Hawaii, Hoa Kì.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Kepler-10b nằm cách Hệ mặt trời khoảng 560 năm ánh sáng, thuộc chòm sao Thiên Long. Nó có kích thước xấp xỉ với mặt trời, với độ tuổi ước tính khoảng 12 tỷ năm. Kepler-10b là hành tinh đầu tiên được phát hiện vào quỹ đạo của ngôi sao của nó. Đối với điều này, nó được công nhận là hành tinh b của ngôi sao. Ngược lại, ngôi sao này được đặt tên theo tàu vũ trụ Kepler, một hoạt động do NASA lãnh đạo nhằm tìm ra các hành tinh đất liền chuyển tiếp, hoặc vượt qua trước các ngôi sao chủ của nó đối với trái đất. Phát hiện hành tinh đã được công bố cho công chúng vào ngày 10, 2011.

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Kepler-10b được chú ý nhiều nhất vì bề mặt đá của nó. Nó có đường kính gấp khoảng 1,4 lần Trái đất, và khối lượng gấp khoảng 3,33 ± 0,49 lần Trái Đất. Nó quay quanh ngôi sao chủ của nó, Kepler-10, với chu kì chưa đầy một ngày, ít hơn 1/20 lần khoảng cách từ sao Thủy đến Mặt Trời. Nhiệt độ bề mặt của nó ở mặt sao sáng là khoảng 1833 độ K, với nhiệt độ này, bề mặt hành tinh có thể làm chảy sắt.

Mặc dù CoRoT-Exo-7b đã được phát hiện trước Kepler-10b và đã được tuyên bố là đá, có nhiều nơi cho các giải thích khác trong trường hợp thành phần của CoRoT-Exo-7b hơn là đối với Kepler-10b. Điều này là do sự không chắc chắn lớn hơn nhiều trong khối lượng CoRoT-7b (và, ở một mức độ nhỏ hơn, bán kính của nó) được minh họa trong cốt truyện bên trái. Do đó, CoRoT-7b có thể được tiết lộ là một hành tinh dung nham-đại dương, [ làm rõ cần thiết ] trong khi Kepler-10b phải được thực hiện chủ yếu là đá hay sắt. Ngoài việc hiển thị phạm vi của quần chúng và bán kính phù hợp với quan sát của mỗi hành tinh, cốt truyện bao gồm các đường cong của các sáng tác được ngụ ý bởi một số quần thể và bán kính nhất định. Kepler-10b bị khóa chặt chẽ với ngôi sao mẹ của nó và có những thay đổi nhiệt độ giữa các ngày và đêm. Nó cũng phản ánh khoảng một nửa ánh sáng mặt trời mà nó nhận được.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b The Kepler-10 planetary system revisited by HARPS-N: A hot rocky world and a solid Neptune-mass planet, Xavier Dumusque, Aldo S. Bonomo, Raphaelle D. Haywood, Luca Malavolta, Damien Segransan, Lars A. Buchhave, Andrew Collier Cameron, David W. Latham, Emilio Molinari, Francesco Pepe, Stephane Udry, David Charbonneau, Rosario Cosentino, Courtney D. Dressing, Pedro Figueira, Aldo F. M. Fiorenzano, Sara Gettel, Avet Harutyunyan, Keith Horne, Mercedes Lopez-Morales, Christophe Lovis, Michel Mayor, Giusi Micela, Fatemeh Motalebi, Valerio Nascimbeni, David F. Phillips, Giampaolo Piotto, Don Pollacco, Didier Queloz, Ken Rice, Dimitar Sasselov, Alessandro Sozzetti, Andrew Szentgyorgyi, Chris Watson, (Submitted on 30 May 2014)
  2. ^ The orbital phases and secondary transit of Kepler-10b - A physical interpretation based on the Lava-ocean planet model: Daniel Rouan, Hans J. Deeg, Olivier Demangeon, Benjamin Samuel, Céline Cavarroc, Bruce Fegley, Alain Léger
  3. ^ a ă â b c Batalha, N. M. và đồng nghiệp (2011). “Kepler's First Rocky Planet: Kepler-10b”. The Astrophysical Journal 729: 27. Bibcode:2011ApJ...729...27B. arXiv:1102.0605. doi:10.1088/0004-637X/729/1/27. 
  4. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên BBCNews