Kereta Api Indonesia

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Kereta Api Indonesia
Logo PT Kereta Api Indonesia (Persero) 2020.svg
Kereta api Mataram SLO-PSE.jpg
Đoàn tàu của Kereta Api Indonesia tại Pucung, Kotabaru
Thông tin chung
KiểuCông ty đường sắt thuộc nhà nước
Vị tríJava, Aceh, Bắc Sumatra, Tây Sumatra, Nam Sumatra, Lampung
Ga cuối1945 (Khi Indonesia độc lập)
Địa chỉ webhttps://www.kai.id/
Hoạt động
Sở hữuChính phủ Indonesia
Thông tin kỹ thuật
Chiều dài tuyến5,042 km (3,133 mi)
Khổ đường sắt1,435 mm1,067 mm

PT Kereta Api Indonesia hay Perseso (Tiếng Việt: Công ty Đường sắt Indonesia), viết tắt là PT KAI hoặc KAI là một công ty đường sắt duy nhất của Indonesia. Đây là một công ty do nhà nước quản lý. Trụ sở chính của KAI nằm tại Bandung, Tây Java.

Lịch sử phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Từ năm 1864 - năm 1942 (thuộc Hà Lan)[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch sử đường sắt Indonesia bắt đầu khi Toàn quyền Đông Ấn Hà Lan bắt đầu xây dựng tuyến đường sắt Semarang - Vorstenlanden (Solo - Yogyakarta) vào ngày 17 tháng 6 năm 1864 với khổ đường sắt 1.435 mm. Sau đó họ đã xây các tuyến mới như tuyến Surabaya - Pasuruan - Malang ở đảo Java, các tuyến đường sắt cũng được xây dựng tại Aceh năm 1876, tại Bắc Sumatera năm 1889, tại Tây Sumatera năm 1891, tại Nam Sumatera năm 1914. Đến năm 1928, tổng chiều dài của đường sắt Indonesia là 7.464 km trong đó có 4.089 km đường sắt do nhà nước quản lý, 3.375 km đường sắt còn lại thuộc các công ty tư nhân.[1]

Từ năm 1942 - 1945 (thuộc Nhật Bản)[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 1942, Toàn quyền Đông Ấn Hà Lan đầu hàng Đế quốc Nhật Bản vô điều kiện và đường sắt Indonesia được chuyển cho Nhật Bản quản lý. Khi đó công ty đường sắt quốc gia này đã được đổi tên thành Rikuyu Sokyuku. Đường sắt thời này đa số chỉ được dùng để phục vụ cho mục đích chiến tranh.[1]

Từ năm 1945 - nay[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 17 tháng 8 năm 1945, sau khi Indonesia tuyên bố độc lập, ngày 28 tháng 9 năm 1945, Indonesia đã tiếp quản lại Trụ sở Đường sắt Indonesia tại Bandung. Việc này đã đánh dấu sự thành lập của Djawatan Kereta Api Republik Indonesia (DKARI). Đến năm 1958, các tuyến đường sắt ở Indonesia đều được quốc hữu hóa gồm cả Deli Spoorweg Maatschappij (DSM) từ đó thành lập nên công ty Perusahaan Negara Kereta Api (PNKA).[2] Sau vài lần chuyển tên thành Perusahaan Jawatan Kereta Api (PJKA)[3] năm 1971 và Perusahaan Umum Kereta Api (Perumka) năm 1991,[4] vào tháng 5 năm 2010, PT Kereta Api Indonesia (Persero). Hiện tại, PT Kereta Api Indonesia có 7 công ty con gồm: PT Reska Multi Usaha, PT Railink, PT Kereta Api Indonesia Commuter Jabodetabek, PT Kereta Api Pariwisata, PT Kereta Api Logistics, PT Kereta Api Correctti Manajemen, PT Pilar Sinergi BUMN Indonesia.[1]

Vào năm 2019, PT Kereta Api Indonesia đã đáp ứng nhu cầu 429 triệu lượt khách và 47,2 triệu tấn hàng hóa.[5]

Cơ sở vật chất[sửa | sửa mã nguồn]

Đường sắt[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ giao thông ở đảo Java, Indonesia

PT Kereta Api Indonesia đang khai thác hai khổ đường ray là 1.067 mm và 1.435 mm. Các tuyến đường sắt ở JavaSumatra đều sử dụng khổ 1.067 mm, đường sắt ở Aceh sử dụng khổ 1.435 mm. Tổng chiều dài đường sắt (bao gồm cả đường sắt bỏ hoang) của Indonesia là 7.583 km, trong đó 5.042 km đường sắt đang được khai thác sử dụng cho đến năm 2019.

Đầu máy toa xe[sửa | sửa mã nguồn]

PT Kereta Api Indonesia hiện đang có:

Đa số các đầu máy PT Kereta Api Indonesia đều là đầu máy diesel, còn những đầu máy mới đều là đầu máy điện. Các loại đầu máy hiện đang được sử dụng như sau:

Số thứ tự Tên đầu máy Hình ảnh
1 C300 ID diesel loco C 300-11 040829 003 tmii.JPG
2 C301
3 D300 D 300 23 Ambarawa 2016.jpg
4 D301 ID diesel loco D 301-28 060618 7816 cn.jpg
5 BB200 ID diesel loco BB 200-05 040913 004 lpy (cropped).jpg
6 BB201 ID diesel loco BB 201-03 070910 0371 kya.JPG
7 BB202 Ptkabb202 (202 01 A).jpg
8 BB203 BB 203 78 01.jpg
9 BB204 BB 204.jpg
10 BB300 PTKABB300 (300 29 A).jpg
11 BB301 BB 301 25 2019.jpg
12 BB302 BB 302 70 01 Binjai.jpg
13 BB303 Sibinuang BB 303 Short Hood Pariaman.jpg
14 BB304 ID diesel loco BB 304-23 040729 002 jakk.JPG
15 BB305 PTKABB305.04 (05 A).jpg
16 BB306 PTKABB306 (306 02 B).jpg
17 CC200 Cc200 15.jpg
18 CC201 CC 201 77 09 443 01 01 2021.jpg
19 CC202 KLB TNI CC202.JPEG
20 CC203 CC 203 01 07 Rewulu 2018.jpg
21 CC204 CC 204 03 01 KA Gajah Wong.jpg
22 CC205 EMD GT38ACe, in action closely captured.jpg
23 CC206 Lokomotif CC206.jpg
24 CC300 CC 300 12 02 KLB Kricak.jpg

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a b c “Sejarah Perkeretaapian”. Website PT Kereta Api Indonesia. Truy cập 6 tháng 5 năm 2022.
  2. ^ Kebangkitan BUMN Sektor Perhubungan (SC). Jakarta: Gramedia Pustaka Utama.: Harinowo, C.; Purwita, T.; Wibowo; Wiko, G.; Primiana, I.; Sutaryono, P.; Augusta, F. (2019). tr. 9. ISBN 9786020633664.
  3. ^ “1971 Indonesian Government's Regulation No. 61, dated 15 September 1971”. Truy cập 7 tháng 5 năm 2022.
  4. ^ AB (3 tháng 1 năm 1991). “Kereta Api Resmi Jadi Perumka”. Truy cập 7 tháng 5 năm 2022.
  5. ^ Dawn Pebrianto (10 tháng 2 năm 2020). “KAI: 2019, Jumlah Penumpang Kereta Naik 4 Juta”. Tempo. Truy cập 7 tháng 5 năm 2022.
  6. ^ “Informasi Kelas Satu”.