Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại vào ngày 25 tháng 11 năm 2005. Sau Nhã nhạc cung đình Huế, đây là di sản thứ hai của Việt Nam được nhận danh hiệu.[1]

Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên trải dài trên 5 tỉnh Tây Nguyên: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk NôngLâm Đồng. Chủ thể của không gian văn hóa này gồm nhiều dân tộc khác nhau: Ê đê, Jarai, Ba Na, Mạ, Lặc...[2]

Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên bao gồm các yếu tố bộ phận sau: cồng chiêng, các bản nhạc tấu bằng cồng chiêng, những người chơi cồng chiêng, các lễ hội có sử dụng cồng chiêng (Lễ mừng lúa mới, Lễ cúng Bến nước...), những địa điểm tổ chức các lễ hội đó (nhà dài, nhà rông, nhà gươl, rẫy, bến nước, nhà mồ, các khu rừng cạnh các buôn làng Tây Nguyên,...), v.v.[3]

Hiện tại, ở các vùng có cồng chiêng như ở Tây nguyên, Lễ hội Cồng chiêng được tổ chức hàng năm là một hoạt động vừa có ý nghĩa bảo tồn bản sắc văn hóa vừa là một sản phẩm du lịch ăn khách.[4][5]

Thư viện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “越南西原地区努力保护与发扬锣钲文化价值”. 越通社. ngày 27 tháng 6 năm 2015.
  2. ^ “锣钲文化空间——西原地区各民族人民的无价之宝”. 越通社. ngày 4 tháng 11 năm 2013.
  3. ^ “2018年西原锣钲文化节将于11月中旬举行”. 越通社. ngày 18 tháng 7 năm 2018.
  4. ^ “2018年西原锣钲文化节:精彩的民间文化演出”. 越通社. ngày 2 tháng 12 năm 2018.
  5. ^ “阮春福参加2018年西原锣铮文化节”. 越通社. ngày 1 tháng 12 năm 2018.