Khăn vấn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Khăn vấn cổ điển theo lối Champa.
Khăn vấn thông dụng của đàn ông vẫn giữ những đặc điểm lâu đời nhất.
Cái rí của một người đàn bà Bắc Kỳ.
Các thanh nữ làm đỏm với khăn rằn.
Một cô gái Hà Nội để kiểu tóc vấn trần khi đi bát phố.

Khăn vấn[1] (Nôm: 巾抆), khăn đóng (Nôm: 巾凍) hoặc khăn xếp (Nôm: 巾插), là cách gọi một thứ trang sức căn bản của người Việt Nam phổ dụng từ thế kỷ XVIII đến nay.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Theo tác giả Ngàn năm áo mũ Trần Quang Đức[2], từ thời Lê trung hưng ngược về thái cổ, đôi lúc người An Nam vẫn quen dùng khăn bọc tóc theo tập quán Trung Châu, nhưng sang đến những năm hòa hoãn sau cuộc Trịnh-Nguyễn phân tranh thì cư dân Quảng Nam bắt đầu phỏng theo nhiều tục của người Champa, trong đấy có lối vấn khăn. Việc vấn khăn trên đầu trước tiên là để tránh cái nóng gay gắt của khí hậu Nam Trung Bộ, nhưng sau là để làm đỏm. Năm 1744, Võ vương Nguyễn Phước Khoát ban lệnh toàn cõi Quảng Nam phải ăn mặc theo lối mới để tỏ ra khác biệt với người ở phía Bắc sông Gianh, do vậy tục vấn khăn đã trở nên đặc trưng của người miền này. Nhưng phải đến các đạo luật ngặt nghèo của vua Nguyễn Thánh Tổ năm 1830 thì tục này mới thành phổ dụng trên khắp nước.

Tục vấn khăn trải nhiều biến thiên, dần trở thành chứng cứ để nhận biết cộng đồng An Nam trong cõi Đông Á, thậm chí là mặc định khiến người Việt lầm tưởng về thói quen ăn mặc của tổ tiên mình suốt ngàn năm. Nó dần mai một từ giai đoạn đầu thế kỷ XX khi làn sóng Âu hóa nở rộ, tuy rằng hiện nay vẫn chưa dứt hẳn.

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Khăn vấn là một tấm vải hình chữ nhật dài và khá dày, được quấn nhiều vòng quanh đầu và không phân biệt giới tính cũng như tuổi tác người dùng. Cứ theo các sắc lệnh của triều Nguyễn được chép trong Đại Nam thực lục, ban sơ người An Nam vẫn trung thành với lối vấn khăn kiểu Champa - mà hoàn toàn có thể truy đến tập quán của mọi cộng đồng Hồi giáo, nhưng dần dà được cách tân cho phù hợp với mỗi thời và mỗi đẳng cấp xã hội. Thậm chí, từ thế kỷ XX còn xuất hiện thêm các kiểu giả khăn vấn bằng gỗ, nhựa, kim loại... tuy nhiên thói quen này thường bị báo giới chê là kệch cỡm.

Có rất nhiều dạng khăn vấn, nhưng căn bản được phân theo 3 kiểu:

  • Khăn vấn thường: Chỉ dành cho đàn ông, có tính cách tiện dụng. Dùng tấm vải mỏng dày tùy ý để cố định búi tóc và quấn 1-2 vòng quanh đầu cho thật gọn, ngoại trừ màu vàng (thuộc đặc quyền của hoàng đế), mọi màu khác được phép.
  • (hoặc đôi khi khăn lươn): Chỉ dành cho đàn bà, cũng có tính cách tiện dụng. Một mảnh vải không quá dài, có độn tóc bên trong, được quấn một vòng quanh đầu để giữ cho tóc được gọn. Các thiếu nữ khi đi hội còn ưa để tóc đuôi gà cho tăng phần duyên dáng. Ngoại trừ màu vàng (cho người hoàng phái) và hồng (cho con hátgái đĩ), các màu khác đều phổ biến.
  • Mũ mấn[3] (hoặc khăn vành dây): Có tính cách trang trọng và thuận với các dịp lễ tiết. Tấm vải rất dài và dày được quấn nhiều vòng quanh đầu như hình phễu; chỉ gồm các màu vàng (cho hoàng đếhoàng hậu), đen, nâu, tím, đỏ (cho người già vào dịp chúc phúc, mừng thọ), thiên thanh (cho cô dâu, chú rể), trắng (cho đồng cốt hoặc người có tang trở).

Ngoài ra, theo luật triều Nguyễn, khăn vấn quá ngắn và mỏng bị cấm, nhưng quá dài và dày cũng bị chê là xấu. Vì thế, việc vấn khăn sao cho gọn và đẹp được coi là xu hướng chung để đánh giá phẩm chất mỗi người.

Biến thể[sửa | sửa mã nguồn]

Ở miền đồng bằng sông Cửu Long rất thịnh hành thứ khăn rằn[5], vốn kết tinh thứ khăn vấn lâu đời hơn của người Việt với khăn rằn của người Khmer. Nhưng khác với màu đỏ của người Khmer, khăn của người Việt có màu đen xen trắng. Khăn thường dài 1m2, rộng cỡ 40–50 cm. Do chỉ phổ dụng ở Nam Bộ nên tạm được coi là nét đặc trưng của tập quán nơi này.

Trong những năm đầu thập niên 1930, khi trào lưu giải phóng nữ quyền từ Nam Kỳ dội ngược ra các thành thị Bắc Trung Kỳ, giới trí thức tân học đã cảm thấy cần phải sửa đổi dần ý thức xã hội để người phụ nữ có nhiều cơ hội tham dự các sinh hoạt cộng đồng hơn. Việc trước tiên là phải cải cách y phục răng tóc như một sự "cởi trói" về thân thể, để nữ phái được mạnh dạn khoe nhan sắc hơn. Từ các số đầu tiên của tuần báo Ngày Nay, Tự Lực văn đoàn đã tích cực quảng cáo cho kiểu tóc vấn trần do ông Lemur Nguyễn Cát Tường chủ trương. Ngay lập tức, trong công luận Hà Nội đã dấy lên một làn sóng tranh cãi khá gay gắt, vì đa phần ý kiến chưa thấy hài lòng với lối tư duy quá mới này. Để trấn an dư luận, ông Cát Tường phải chụp ảnh vợ mình - bà Nguyễn Thị Nội - với kiểu tóc ấy, rồi thuê mấy cô người mẫu đều con nhà danh giá trưng diện khi đi bát phố. Mặc dù, dần dà kiểu đầu tóc cải cách này cũng được đám đông chấp nhận, nhưng ở thập niên 1930-40 chỉ có các thanh nữ thành thị ưa để, những người đàn bà đã kết hôn hoặc lớp người chín tuổi vẫn trung thành với lối cũ.

Nghệ thuật hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Ta đi chợ dốc ngồi gốc cây đa
Thấy cô bán rượu
Mặc áo nâu già
Thắt dây lưng xanh
Khăn xanh có rí đội đầu
Để thương để nhớ để sầu cho ai

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Chữ vấn (抆) có nghĩa là quấn tròn.
  2. ^ Truyện ngữ nghĩa
  3. ^ Mấn (𢄯) là cách đọc trại của vấn.
  4. ^ Đoàn Thị Tình, Tìm hiểu trang phục Việt Nam, Văn Hóa xuất bản xã, Hà Nội, 1987.
  5. ^ Vương Hồng Sển, Đất và người Nam Bộ, Nhà xuất bản Phương Nam, Sài Gòn, 2016.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]