Bước tới nội dung

Khổng Phụ Gia

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Khổng Phụ Gia
孔父嘉
Sinh765 TCN
Mất710 TCN
Quốc tịchTống
Nghề nghiệpChính trị gia
Con cáiMộc Kim Phụ
Cha mẹ

Khổng Phụ Gia (chữ Hán: 孔父嘉, 765 TCN - 710 TCN) họ Tử, tên Gia, tự Khổng Phụ, là cao tổ sáu đời của Khổng Tử, làm quan Đại phu nước Tống thời Xuân Thu. Ông là cháu chín đời của Vi trọng (em trai Vi tử Khải – thủy tổ nước Tống) và cháu sáu đời của Tống Mẫn công, vị quân chủ thứ năm của nước Tống.

Thân thế và sự nghiệp

[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tống Tuyên công thứ 19 (729 TCN), trước khi lâm chung thì ông bỏ qua con trai là thái tử Dữ Di và nhường ngôi cho em mình là công tử Hòa - tức Tống Mục công.[1]

Năm Mục công thứ 9 (720 TCN), Mục công lâm bệnh nặng, triệu tập Khổng Phụ Gia để ủy thác việc triều chính. Ông dặn dò Khổng Phụ Gia phò tá thái tử Dữ Di (con trai Tuyên công) kế vị ngôi vua,[2] [3]đồng thời ra lệnh cho con trai mình là công tử Phùng phải lưu vong sang nước Trịnh. Ngày 5 tháng 8 cùng năm, Mục công băng hà, Dữ Di chính thức đăng cơ, tức Tống Thương công. [4]

Bị giết

[sửa | sửa mã nguồn]

Tống Thương công tại vị 10 năm mà phát động tới 11 cuộc chiến, khiến dân chúng khốn khổ. Kể từ khi Thương công lên ngôi, nước Tống ba lần tấn công nước Trịnh, mà Đại Tư Mã Khổng Phụ Gia chính là người chủ chiến. Sau khi Khổng Phụ Gia bị Trịnh Trang công đánh bại, thua trận trở về, lòng dân càng thêm oán hận. Thái tể Hoa Đốc (华督) thấy vợ Khổng Phụ Gia (người họ Ngụy) "xinh đẹp lộng lẫy",[5] nên nảy lòng muốn chiếm đoạt và lập mưu giết Khổng Phụ Gia. Nhân dịp mùa xuân đang tổ chức chuyến đi săn, Hoa Đốc viện cớ "vì dân" mà giết Khổng Phụ Gia rồi cướp vợ ông. Người vợ trên đường bị giải đi đã tự vẫn để giữ trọn khí tiết. Tống Thương công nổi giận, Hoa Đốc liền giết luôn Thương công, đón công tử Phùng từ nước Trịnh về lập làm vua, tức Tống Trang công.

Việc Khổng Phụ Gia bị sát hại là sự kiện lớn liên quan đến gia tộc họ Khổng. Từ đó lấy chữ "Khổng" làm họ. Khổng Phụ Gia chỉ có một người con trai là Mộc Kim Phụ. Kim Phụ sinh Cao Di, Cao Di sinh Phòng Thúc. Vì sợ họ Hoa hãm hại, Phòng Thúc chạy sang nước Lỗ. Về sau Khổng thánh Trọng Ni (Khổng Tử) chính là cháu 6 đời của Khổng Phụ Gia được sinh ra tại nước Lỗ.

Liên hệ với họ Khổng sau này

[sửa | sửa mã nguồn]

Có người cho rằng từ ông mới bắt đầu có họ "Khổng". Cách nói này sai lầm, do người đời sau này không phân biệt được "họ" (姓) và "thị" (氏). Cả Khổng Phụ Gia lẫn Khổng Tử đều không họ Khổng mà họ "Tử". "Khổng" không phải họ mà là thị của họ. Thời cổ, "thị" và "họ" khác nhau: "Họ" biểu thị "người mẹ sinh ra", vốn theo mẫu hệ. Đến thời Xuân Thu, "thị" dùng để phân biệt sang hèn, "họ" dùng để phân biệt hôn nhân. Với Khổng Phụ Gia, "Khổng" chỉ là tự (tên chữ), không phải họ hay thị kế thừa. Do tổ tiên ông thuộc dòng tông thất nước Tống, đến đời ông đã "năm đời hết thân" (ngũ thế thân tận), phải tách thành công tộc mới, không được dùng thị cũ nữa (có thuyết nói thị tổ tiên là "Công Tôn"). Vì vậy, nhánh Khổng Phụ Gia lấy tự của ông làm thị mới. Thời đó, cách gọi tên nam giới có thể dùng thị, tên hay tự không cố định. Sau Khổng Phụ Gia, vài đời sau như Mộc Kim Phụ, Kỳ Phụ, Phòng Thúc, Bá Hạ, Thúc Lương Hột đều không thêm thị vào tên. Việc thêm "Khổng" vào danh xưng bắt đầu từ thời Khổng Tử (đời thứ 6). Họ thật của Khổng Tử là "Tử" (đây là họ chứ không phải tôn xưng), tên Khâu, nhưng họ chỉ do nữ giới sử dụng nên ông không được gọi là "Tử Khâu" mà là "Khổng Khâu". Do danh tiếng Khổng Tử lẫy lừng, hậu thế tiếp tục cách "ghép thị vào tên" này như con trai là Khổng Lý, cháu Khổng Cấp, chắt Khổng Bạch... để thể hiện quan hệ huyết thống. Sau đó thời thế biến động, "thị" không còn phân sang hèn nữa, dần hòa lẫn "họ" và "thị". Đời sau không biết phân biệt nên "Khổng" mới bị coi là họ của con cháu Khổng Tử.

Thế phả

[sửa | sửa mã nguồn]
 
 
 
 
Tống Mẫn công
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Phất Phụ Hà
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Tống Phụ Chu
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Thế tử Thắng
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Chánh Khảo Phụ
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Khổng Phụ Gia
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Mộc Kim Phụ
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Kỳ Phụ
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Phòng Thúc
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Bá Hạ
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Thúc Lương Hột
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Mạnh Bì
 
Khổng Tử
 

Chú thích

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ Tư Mã Thiên. "宋微子世家第八" [Tống Vi Tử thế gia đệ bát]. Sử ký 史记 (bằng tiếng Trung). Quyển 38. 宣公有太子与夷。十九年,宣公病,让其弟和,曰:"父死子继,兄死弟及,天下通义也。我其立和。"和亦三让而受之。宣公卒,弟和立,是为穆公。 [Tuyên công có con trai là thái tử là Dữ Di. Năm thứ 19, Tuyên công lâm bệnh, nhường ngôi cho em là Hòa, nói: "Cha chết con nối, anh chết em thừa, đó là đạo lý chung của thiên hạ. Ta quyết định lập Hòa." Hòa ba lần nhường lại rồi mới nhận ngôi. Tuyên công mất, em là Hòa lên ngôi, tức Mục công.]
  2. ^ Tả Khâu Minh. "隐公三年" [Ẩn Công năm thứ 3]. Tả truyện 左傳 (bằng tiếng Trung). 宋穆公疾,召大司马孔父而属殇公焉,曰:"先君舍与夷而立寡人,寡人弗敢忘。若以大夫之灵,得保首领以没,先君若问与夷,其将何辞以对?请子奉之,以主社稷,寡人虽死,亦无悔焉。"对曰:"群臣愿奉冯也。"公曰:"不可。先君以寡人为贤,使主社稷,若弃德不让,是废先君之举也,岂曰能贤?光昭先君之令德,可不务乎?吾子其无废先君之功。" [Khi Tống Mục công lâm bệnh, ông triệu tập Đại Tư Mã Khổng Phụ Gia đến để ủy thác việc phò tá Thương công. Mục công nói: "Tiên quân đã bỏ Dữ Di để lập ta lên ngôi, điều này ta không dám quên. Nếu nhờ phúc lành của Đại phu mà ta được bảo toàn tính mạng đến cuối đời, vậy nếu tiên quân có hỏi về Dữ Di thì ta sẽ trả lời thế nào đây? Xin ngài hãy phò tá Dữ Di trị vì đất nước. Như thế dù ta có chết cũng không hối hận." Khổng Phụ Gia đáp: "Nhưng quần thần đều muốn tôn công tử Phùng lên ngôi." Mục công nói: "Không được! Tiên quân cho ta là người hiền đức nên giao phó xã tắc. Nếu ta bỏ đức không nhường ngôi, tức là phụ công lao của tiên quân, còn gọi là hiền đức sao? Làm sáng tỏ đức độ của tiên quân, há chẳng phải là việc cần gắng sức sao? Xin ngài đừng làm hỏng công lao của tiên quân."]
  3. ^ Tư Mã Thiên. "宋微子世家第八" [Tống Vi Tử thế gia đệ bát]. Sử ký 史记 (bằng tiếng Trung). Quyển 38. 穆公九年,病,召大司马孔父谓曰:"先君宣公舍太子与夷而立我,我不敢忘。我死,必立与夷也。"孔父曰:"群臣皆原立公子冯。"穆公曰:"毋立冯,吾不可以负宣公。 [Năm thứ 9 đời Mục công, vua lâm bệnh, triệu Đại Tư Mã Khổng Phụ đến và dặn: "Tiên quân Tuyên công bỏ thái tử Dữ Di mà lập ta, ta không dám quên ơn. Sau khi ta chết, phải lập Dữ Di lên kế vị." Khổng Phụ tâu: "Quần thần đều muốn lập công tử Phùng." Mục công quả quyết: "Không được lập Phùng! Ta không thể phụ lòng Tuyên công.]
  4. ^ Tư Mã Thiên. "·宋微子世家第八" [Tống Vi Tử thế gia đệ bát]. Sử ký 史记 (bằng tiếng Trung). Quyển 38. 于是穆公使冯出居于郑。八月庚辰,穆公卒,兄宣公子与夷立,是为殇公。 [Do đó, Mục công buộc công tử Phùng phải rời khỏi nước Tống và sang sống lưu vong tại nước Trịnh. Đến ngày Canh Thìn tháng 8 (âm lịch) cùng năm, Mục công băng hà. Con trai Tuyên công là Dữ Di được lập lên ngôi, tức Tống Thương công.]
  5. ^ Tả Khâu Minh. "桓公元年" [Hoàn Công năm thứ nhất]. Tả truyện 左傳 (bằng tiếng Trung). 宋华父督见孔父之妻于路,【目逆而送之,曰:"美而艳。"】 [Hoa Đốc nước Tống gặp vợ Khổng Phụ Gia trên đường, mắt đưa theo nhìn say đắm rồi thốt lên: "Xinh đẹp và lộng lẫy!"]