Khai Trí Tiến Đức

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
Học giả Phạm Quỳnh

Hội Khai Trí Tiến Đức, còn được gọi là hội AFIMA (viết tắt nguyên tên tiếng Pháp của hội l'Association pour la Formation Intellectuelle et Morale des Annamites) là một hiệp hội tư lập với chủ trương giao lưu văn hóa giữa trào lưu Tây học và học thuật truyền thống Việt Nam vào đầu thế kỷ 20 (1919-1945).[1]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trụ sở cũ của hội Khai Trí Tiến Đức do Đỗ Văn Y thiết kế, sau gọi là câu lạc bộ Thống Nhất, tọa lạc ở số 16 phố Lê Thái Tổ, nay là 79 Hàng Trống, Hà Nội

Hội Khai Trí Tiến Đức được thành lập ngày 5 tháng 2 năm 1919 với học giả Phạm Quỳnh làm Tổng thư ký,[2] Cử nhân Hoàng Huân Trung làm Hội trưởng. Những nhân vật khác có tên tuổi cũng đứng tên trong hội là Tổng đốc Hà Đông Hoàng Trọng Phu (con trai của Kinh lược đại thần Hoàng Cao Khải) và Thượng thưBộ Binh kiêm Bộ học Thân Trọng Huề (người mà vua Bảo Đại gọi là cậu).[3] Ngoài ra Louis Marty, chánh sở Liêm phóng và Nha Chính trị Đông Dương cũng đứng tên trong Hội.[4]

Năm 1920 Hội mở cuộc thi tuyển chọn kiến trúc xây hội quán. Đỗ Văn Y thắng giải thiết kế và năm 1922 thì công việc xây cất hoàn thành để khánh thành hội quán trên phố Hàng Trống, ngay phía tây bờ hồ Gươm.[5] Nơi đó trở thành địa điểm tổ chức nhiều sinh hoạt như các cuộc hội thảo, diễn thuyết, triển lãm tranh cùng các trò giải trí tiêu khiển như bi da, đánh cờ, yến tiệc. Hoạt động của Hội có những mốc lịch sử đáng kể như "Giải thưởng văn chương năm 1925" (trao cho tác phẩm Quả dưa đỏ của Đồ Nam Tử Nguyễn Trọng Thuật),[6] truy niệm thi hào Nguyễn Du (1924), truy điệu doanh gia Bạch Thái Bưởi (1932), diễn thuyết về các đề tài như Truyện Kiều, quốc học, v.v... Có những cuộc trao đổi không kém gay cấn về chính trị giữa giới trí thức người Việt và chính quyền Bảo hộ của người Pháp đã diễn ra tại hội quán tuy chủ ý của Hội là văn hóa chứ không phải chính trị.[7]

Sau khi Việt Minh đoạt chính quyền Hội bị giải tán theo sắc lệnh ngày 24 tháng 9 năm 1945 vì bị cho là "công cụ thống trị tinh thần và nô dịch văn hoá của thực dân".

Thành tích[sửa | sửa mã nguồn]

Việt-Nam Tự-điển[sửa | sửa mã nguồn]

Thành tựu đáng ghi nhớ nhất của Hội là việc soạn cuốn từ điển tiếng Việt mang tựa Việt-Nam Tự-điển do nhà in Trung-Bắc Tân-Văn xuất bản năm 1931. Tiểu ban phụ trách soạn thảo gồm các ông Phạm Quỳnh (chủ bút), Nguyễn Văn Vĩnh, Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Nguyễn Văn Luận, Phạm Huy Lục, Dương Bá Trạc, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Đôn Phục, và Đỗ Thận.[8]

Cuốn từ điển này là tác phẩm công phu, dày 663 trang, tra cứu cả chữ Nho lẫn tiếng Pháp hầu tạo chữ để diễn tả những tư tưởng mới du nhập vào Việt Nam, nhất là những danh từ kỹ thuật. Hơn nữa từ điển Khai Trí Tiến Đức còn thâu nhận những danh từ thổ ngữ của các địa phương cả ba miền Nam, Trung, Bắc. Cuốn từ điển này sang thế kỷ 21 vẫn thường được lấy làm mẫu mực chính tả và từ mục.

Đền vua Lê và đền thờ Nguyễn Du[sửa | sửa mã nguồn]

Các sinh hoạt văn hóa khác của Hội phải kể việc dựng tượng vua Lê Thái TổBờ Hồ, Hà Nội[9] và việc tu tạo nhà thờ Nguyễn Du năm 1940 ở gần văn thánh huyện Nghi Xuân để lập quần thể kiến trúc lưu niệm nhà đại thi hào nước Việt.

Năm 1924 khi làm lễ truy niệm Nguyễn Du ở Hà Nội thì bàn thờ ghi ha câu đối chữ Nôm:

"Trăm năm để tấm lòng, còn nước, còn non, còn truyền cổ lục,
"Tấc thành dâng một lễ, nhớ người, nhớ cảnh, nhớ buổi hôm nay.[10]

Khi dựng đền ở Hà Tĩnh thì Hội cho đề câu đối khác hai bên cửa:

"Khúc đâu lưu thủy hành vân để tiếng tài tình chung đất nước"
"Chốn ấy san hồ cổ thụ nhớ người thanh khí nặng non sông".[11]

Hội còn cho dựng tấm bia năm 1930 với bài minh của phó bảng Ưu Thiên Bùi Kỷ thảo:

Đất đục, trời trong, hoà tan làm mực.
Nước biếc non xanh, tả nên đây bức.
Đã sẵn tài tình quản gì phong sắc?
Hồn văn đi về, cho thơm sực nức.
Kiếm gác bên đền, gió mưa vẫn sắc.
Bút tựa mặt hồ, trăng sao vằng vặc.
Cảnh ấy bia này nghìn thu dằng dặc.

Dưới bia ghi "Ngày rằm tháng 2 năm Kỷ Tỵ, Hội Khai Trí Tiến Đức cẩn chi."[12]

Những công trình này đến năm 1954 vì chiến tranh đã bị tàn phá nên không còn nguyên vẹn nữa.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ho Tai, Hue-Tam. Radicalism and the Origins of the Vietnamese Revolution. Cambridge, MA: Harvard University Press, 1992.
  • Marr, David. Vietnamese Tradition on Trial 1920-1945. Berkeley, CA: University of California Press, 1981.
  • Phạm Thị Ngoạn. Tìm hiểu "Tạp-chí Nam-phong" 1917-1937. Yerres, France: Ý Việt, 1993.
  • Trần Gia Phụng. Giải oan lập một đàn tràng. "Trường hợp Phạm Quỳnh". Silver Spring, MD: Tâm Nguyện, 2001.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]