Khoai tây Bintje

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Potato 'Bintje'
Plants certifiés Bintje.png
'Bintje' potatoes
Chisolanum
LoàiSolanum tuberosum
Loài cha mẹ'Munstersen' x 'Fransen'
Giống cây trồng'Bintje'
Nguồn gốcHà Lan
Cây và hoa của giống Bintje

Bintje là một loại khoai tây chín sớm được trồng ở Hà Lan bởi các thầy giáo Frisian KL de Vries vào năm 1904 từ (Munstersen x Fransen) và đưa ra thị trường lần đầu tiên vào năm 1910.[1] Tên của khoai tây, một từ nhỏ của Benedict, đã được mượn từ một trong những học sinh cũ của ông.[2]

Cây 'Bintje' có kích thước trung bình và thẳng đứng, với thân cây tía, lá màu xanh đậm và hoa trắng.

'Bintje' tạo ra những củ lớn hình bầu dục với da màu vàng nhạt và thịt màu vàng. Nó có đôi mắt nông. Mầm thì màu tía.

Giống năng suất cao này được trồng rộng rãi ở châu ÂuBắc Phi. Nó được sử dụng để luộc, nướng, và cho khoai tây chiên, khoai tây nghiền và khoai tây lát mỏng. Đây là loại khoai tây được trồng rộng rãi nhất ở Pháp và Bỉ.

'Bintje' miễn dịch với vi-rút khoai tây A. Nó có sức đề kháng vừa phải đối với vi rút lá khoai tây. Nó dễ bị bệnh ghẻ lưới,[3] bệnh ghẻ thông thường,[3] Bệnh thối khô Fusarium (Fusarium oxysporum), mụn cóc khoai tây (Synchytrium endobioticum), Virus khoai tây X, Virus khoai tây Y, và bệnh sương mai (Phytophthora infestans). 'Bintje' là vô trùng, giúp ngăn ngừa sự cải thiện khả năng kháng bệnh thông qua chăn nuôi. Một cơ chế để khắc phục tình trạng vô trùng gần đây đã cho phép cải thiện di truyền dựa trên giống trong khả năng kháng bệnh và màu củ khoai tây.[4]

Lieuwes Kornelis de Vries[sửa | sửa mã nguồn]

Lieuwes Kornelis de Vries sinh ngày 25 tháng 2 năm 1854 tại Hardegarijp. Năm 1881, ông kết hôn với Grietje Hommes de Jong. Từ cuộc hôn nhân này, sáu đứa trẻ đã ra đời. Sau cái chết của người vợ đầu (1895), ông kết hôn với Afke Glee vào năm 1897. Từ cuộc hôn nhân này hai đứa trẻ đã ra đời. De Vries mất ngày 20/11/1929.

De Vries làm việc cho đến khi anh 21 tuổi ở trang trại và sau đó đi học để lấy bằng giảng dạy. Năm 1883, ông trở thành giáo viên chủ nhiệm tại trường tiểu học Sumar. Năm 1894, ông tham gia bài kiểm tra dụng cụ nông nghiệp và năm 1901 đã lấy được bằng làm vườn. Bên cạnh công việc là một giáo viên, ông đã tham gia các khóa học mùa đông về lĩnh vực nông nghiệp. De Vries là thành viên của Hiệp hội Nông nghiệp Frisian. Năm 1898, Hội yêu cầu ông tổ chức một khu thử nghiệm để trồng khoai tây, mà ông quản lý trong 25 năm. Ông đã phát triển trong hai mươi lăm năm khoảng 150 giống, trong đó chỉ có Bintje là thành công. Bintje là khoai tây quan trọng nhất trong thực đơn Hà Lan trong một thời gian dài.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Walker, Thomas S. “Patterns and Implications of Varietal Change in Potatoes”. Social Sciences Working Paper (1994-3): 28–29. ISSN 0256-8748. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2014. 
  2. ^ “Bintje (aardappelsoort (ras van Solanum tuberosum))” [Bintje (potato variety (cultivar of Solanum tuberosum))]. Etymologiebank (bằng tiếng Dutch). Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2014. 
  3. ^ a ă Bouchek-Mechiche, K.; Gardan, L.; Normand, P.; Jouan, B. (1 tháng 1 năm 2000). “DNA relatedness among strains of Streptomyces pathogenic to potato in France: description of three new species, S. europaeiscabiei sp. nov. and S. stelliscabiei sp. nov. associated with common scab, and S. reticuliscabiei sp. nov. associated with netted scab” (PDF). International Journal of Systematic and Evolutionary Microbiology 50 (1): 96. PMID 10826791. doi:10.1099/00207713-50-1-91. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2014. 
  4. ^ Jones, Richard; Perez, Frances (2016). “A cellulose binding domain protein restores female fertility when expressed in transgenic Bintje potato”. BMC Research Notes 9: 176. doi:10.1186/s13104-016-1978-6.