Khu bảo tồn Ngorongoro

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Tọa độ: 3°12′32″N, 35°27′46″Đ

Khu bảo tồn Ngorongoro
Welterbe.svg Di sản thế giới UNESCO
Quốc gia Flag of Tanzania.svg Tanzania
Kiểu Hỗn hợp
Hạng mục vii, viii, ix, x
Tham khảo 39
Vùng UNESCO Châu Phi
Lịch sử công nhận
Công nhận 1979 (kì thứ 3)
Mở rộng 2010
Bị đe dọa 1984-1989

Khu bảo tồn Ngorongoro được thành lập vào năm 1959, rộng 809.440 ha, nằm ở phía Đông nam của Vườn quốc gia Serengeti, phía Tây của thung lũng Great Rift. Đây là một khu bảo tồn động vật hoang dã ở Tanzania, và là công viên khảo cổ với các bằng chứng tiến hóa của con người bao gồm dấu vết của vượn người có niên đại lên đến 3,6 triệu năm.

Thiên nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Khu bảo tồn có sự đa dạng về sinh thái gồm rất nhiều các dạng địa hình: núi cao, đồng bằng, thảo nguyên, rừng hoang mạc và rừng. Công viên nổi bật với sự di trú của hơn của các loài dã thú tổng cộng lên đến hơn 1 triệu cá thể gồm linh dương đầu bò, ngựa vằn vào tháng 5 và tháng 6 khi chúng ào ạt di chuyển về các đồng bằng ở miền Trung là một cảnh tượng vô cùng đặc sắc: Các đàn súc vật có thể dài hơn 10 km, theo sau là những loài ăn thịt như sư tử

Ở giữa có một quang cảnh hùng vĩ, đó là miệng núi lửa đã tắt ở độ cao 2.286 m, đường kính từ 15 đến 20 km, được hình thành từ kỷ Đại trung sinh (giai đoạn bò sát) đây là núi lửa có miệng núi lửa lớn nhất thế giới, núi lửa Ngorongoro Crater; và khe núi Olduvai Gorge dài 14 km.

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Các bằng chứng tìm thấy trong suốt 80 năm qua đã minh chứng về sự tiến hóa của con người kéo dài 3,6 triệu năm bao gồm các dấu chân hóa thạch được tìm thấy ở Laetoli và xương vượn người ở thung lũng Olduvai. Ngoài ra, tại miệng núi lửa Ngorongoro Crater người ta còn tìm thấy những tư liệu cho thấy sự tiến hóa trong sử dụng công cụ từ thời kỳ đồ đá đến đồ sắt.

Khu bảo tồn Ngorongoro được công nhận là di sản thế giới vào năm 1979 và mở rộng vào năm 2010 với diện tích hiện nay là 1,4 triệu ha.