Khu tự trị Tây Bắc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Khu tự trị Thái - Mèo (1955 - 1962)
Khu tự trị Tây Bắc (1962 - 1976)
Flag of Vietnam.svg
Địa lý
Diện tích 67.300 km²
Dân số (1975)  
 Tổng cộng 438.000 người
Dân tộc Thái, Kinh, Mường, H'Mông, Dao...
Hành chính
Quốc gia Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Việt Nam
Vùng Tây Bắc
Tỉnh lỵ Thị xã Sơn La
Thành lập 29 tháng 4, 1955
Phân chia hành chính 1 thị xã, 18 huyện

Khu tự trị Thái - Mèo (1955-1962) hay Khu tự trị Tây Bắc (1962-1975), là một đơn vị hành chính cũ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đây là một trong hai vùng lãnh thổ được hưởng quy chế tự trị thuộc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền thân[sửa | sửa mã nguồn]

Lai Châu năm 1920.

Năm 1890 Auguste Pavie, lúc bấy giờ là đại diện của Pháp tại Luang Prabang đề nghị với chính phủ bên chính quốc công nhận Đèo Văn Trị, một thủ lĩnh người Thái Trắng ở châu Lai làm lãnh chúa xứ Thái vùng Sip Song Chau Tai.[1] Họ Đèo được tập quyền cha truyền con nối.

Vào thập niên 1940 khi tình hình Chiến tranh Pháp-Việt ngày càng lan rộng, người Pháp quyết định tách xứ Thái ra khỏi Bắc Kỳ và chính thức thiết lập Khu tự trị Thái vào Tháng Bảy năm 1948. Nằm trong đơn vị này là các sắc dân Lô Lô, Khơ-mú, DaoH'Mông đều thuộc quyền cai quản của lãnh chúa Thái.[2] Chủ tâm của người Pháp là để tranh thủ sự ủng hộ của dân địa phương trong khi đánh dẹp Việt Minh.[3]

Khu tự trị Thái bao gồm tỉnh Lai Châu, Sơn LaPhong Thổ.[1] Thủ phủ đặt ở thị xã Lai Châu cũ, nay là thị xã Mường Lay.[4] Tiếng Tháitiếng Pháp là hai ngôn ngữ chính thức của xứ Thái.[5]

Năm 1950 dưới chính thể Quốc gia Việt Nam của Quốc trưởng Bảo Đại, chiếu theo Dụ số 6 ký ngày 15 Tháng Tư thì Khu tự trị Thái được gom vào cùng với tỉnh Hải NinhXứ Thượng Nam Đông DươngCao nguyên Trung phần để thành Hoàng triều Cương thổ (tiếng Pháp: Domaine de la Couronne).[6] Theo đó thì xứ Thái có vị khâm mạng cai trị nhân danh hoàng đế Bảo Đại.[7]

Khi người Pháp thất trận tại Đông Dương khu tự trị này tan rã.

Khu tự trị Thái - Mèo[sửa | sửa mã nguồn]

Thực hiện chính sách lập khu vực tự trị của các dân tộc ở những vùng có điều kiện theo nghị quyết của Quốc hội, ngày 29 tháng 4 năm 1955 Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ra Sắc lệnh số 230/SL thành lập Khu tự trị Thái - Mèo.

Trước đó, theo Sắc lệnh số 143-SL ngày 28 tháng 1 năm 1953 của Chủ tịch nước, Khu Tây Bắc được thiết lập gồm các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Sơn LaLai Châu, tách khỏi Liên khu Việt Bắc.

Khu tự trị Thái - Mèo phía bắc giáp Trung Quốc, phía tây và phía nam giáp Lào, phía đông nam giáp vùng Mường Hoà Bình, phía đông có dãy núi Phan Xi Păng ngăn cách với các dân tộc tập trung ở lưu vực sông Hồng.

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Khu tự trị bao gồm 16 châu:

  1. Mường Tè,
  2. Mường Lay,
  3. Sình Hồ (nay viết là Sìn Hồ),
  4. Điện Biên,
  5. Quỳnh Nhai,
  6. Sông Mã,
  7. Tuần Giáo,
  8. Thuận Châu,
  9. Mường La,
  10. Mai Sơn,
  11. Yên Châu,
  12. Mộc Châu,
  13. Phù Yên (tức là toàn bộ hai tỉnh Sơn La, Lai Châu),
  14. Phong Thổ (thuộc tỉnh Lào Cai),
  15. Than Uyên,
  16. Văn Chấn (thuộc tỉnh Yên Bái).

Dưới cấp khu chỉ có cấp châu và cấp xã, bỏ cấp tỉnh (Sơn La, Lai Châu). Điều này được hợp thức hóa trong Hiến pháp năm 1959, trong đó quy định Khu tự trị là đơn vị hành chính cấp tỉnh.

Ngày 18 tháng 10 năm 1955, lập thêm 2 châu Tủa ChùaMù Cang Chải.

Khu tự trị Tây Bắc[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 27 tháng 10 năm 1962, Quốc hội thông qua Nghị quyết đổi tên khu tự trị Thái Mèo thành khu tự trị Tây Bắc và thành lập ba tỉnh trong khu:

  1. Tỉnh Lai Châu gồm 7 huyện: Điện Biên, Tuần Giáo, Mường Tè, Tủa Chùa, Mường Lay, Sình Hồ và Phong Thổ.
  2. Tỉnh Sơn La gồm 7 huyện: Quỳnh Mai, Thuận Châu, Mường La, Mai Sơn, Sông Mã, Yên Châu, Mộc Châu và thị xã Sơn La.
  3. Tỉnh Nghĩa Lộ gồm 4 huyện: Than Uyên, Mù Cang Chải, Văn Chấn và Phù Yên.

Khu tự trị lúc đó có diện tích 67.300 km², với số dân 438.000 người.

Đến cuối năm 1962, đầu năm 1963, 3 tỉnh nói trên được thành lập: Sơn La và Lai Châu là tái lập, còn Nghĩa Lộ là tỉnh mới.

Khu tự trị Tây Bắc tồn tại cho tới ngày 27 tháng 12 năm 1975 thì giải thể cùng với Khu tự trị Việt Bắc, đồng thời những quy định trong Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1959 về cấp khu tự trị cũng bị bãi bỏ theo Quyết định của Quốc hội khóa V, kỳ họp thứ 2.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Evans, Grant et al. Where China Meets Southeast Asia: social & cultural change in the border regions. Singapore: Institute of Southeast Asian Studies, 2000. tr 106-109.
  2. ^ Michaud, Jean. Historical dictionary of the peoples of the Southeast Asian massif. Lanham, MD: Scarecrow Press, 2006. tr 228.
  3. ^ Ellinwood, DeWitt. Ethnicity and the military in Asia. New Brunswick, NJ: Transaction, 1981. tr 156.
  4. ^ White Tai or Tai Don
  5. ^ Lê Đình Chi. Người Thượng Miền Nam Việt Nam. Gardena, CA: Văn Mới, 2006. tr 401-449
  6. ^ Luong, Hy. Postwar Vietnam: dynamics of a transforming society. Lanham, MD: Rowman and Littlefield, 2003. tr 134.
  7. ^ Lê Đình Chi. Người Thượng Miền Nam Việt Nam. Gardena, CA: Văn Mới, 2006. tr 569-612.