Bước tới nội dung

Kim Cương (diễn viên)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Nghệ sĩ Nhân dân

Kim Cương
SinhNguyễn Thị Kim Cương
25 tháng 1, 1937 (89 tuổi)
Tên khácHoàng Dũng (bút danh)[1]
Nghề nghiệp
  • Diễn viên sân khấu
  • diễn viên điện ảnh
  • soạn giả
  • đạo diễn sân khấu
  • trưởng đoàn kịch
Tác phẩm nổi bậtLá sầu riêng
Con cáiTrần Trọng Gia Vinh
Cha mẹ
  • Nguyễn Ngọc Cương (cha)
  • Bảy Nam (mẹ)
Danh hiệu

Nguyễn Thị Kim Cương (sinh ngày 25 tháng 1 năm 1937)[2], nghệ danh Kim Cương, là nữ diễn viên sân khấu, diễn viên điện ảnhsoạn giả người Việt Nam. Bà cũng hoạt động với vai trò đạo diễn sân khấu và trưởng đoàn kịch. Sinh ra trong một gia đình sân khấu qua nhiều thế hệ, bà xuất hiện trên sân khấu từ khi còn sơ sinh, hoạt động trong cải lương trước khi chuyển trọng tâm sang kịch nói.[1]

Tại Đoàn kịch Kim Cương, bà đồng thời diễn xuất, viết kịch bản, đạo diễn và quản lý. Dưới bút danh Hoàng Dũng, bà viết nhiều kịch bản, trong đó có Lá sầu riêng, Dưới hai màu áo, Tôi là mẹTrà hoa nữ.[1] Bên cạnh sân khấu, bà xuất hiện trong hơn 45 phim sản xuất tại miền Nam, trong đó có Lòng nhân đạo, Tứ quái Sài GònNgười chồng bất đắc dĩ.[3] Năm 1974, bà nhận hai giải Nữ diễn viên xuất sắc và Lời thoại xuất sắc tại Liên hoan phim châu Á lần thứ 20; bà được phong Nghệ sĩ ưu tú năm 1988 và Nghệ sĩ Nhân dân năm 2011.[4] Sau năm 1975, Đoàn kịch nói Kim Cương tiếp tục hoạt động tại Thành phố Hồ Chí Minh. Khi giảm hoạt động biểu diễn, bà dành nhiều thời gian cho thiện nguyện, hỗ trợ nghệ sĩ gặp khó khăn, trẻ mồ côingười khuyết tật.[5]

Phong cách sân khấu của Kim Cương nhấn mạnh bản sắc Việt trong kịch bản và biểu diễn, từ lời thoại, hành động đến xung đột nội tâm của nhân vật. Lối diễn giàu cảm xúc của bà ảnh hưởng đến nhiều thế hệ nghệ sĩ sân khấu kế tiếp.[6]

Thân thế và tuổi thơ

[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyễn Thị Kim Cương sinh ngày 25 tháng 1 năm 1937.[2] Kim Cương là con của bầu gánh Nguyễn Ngọc Cương và Nghệ sĩ Nhân dân Bảy Nam.[7] Năm Phỉ, chị ruột của Bảy Nam và cũng là nghệ sĩ cải lương, tham gia nuôi dưỡng và dạy nghề cho Kim Cương trong những thời gian Bảy Nam lưu diễn.[8] Gia đình bà nối tiếp hoạt động sân khấu từ hát bội, cải lương đến kịch nói.[1]

Theo soạn giả Nguyễn Phương, Nguyễn Ngọc Cương từng du học tại Pháp; sau khi về nước, ông xây dựng đoàn hát theo mô hình các đoàn Pháp, áp dụng kiến thức sân khấu phương Tây vào cải lương và đào tạo nhiều nghệ sĩ.[7] Các nguồn ghi hai mốc khác nhau đối với gánh Phước Cương: Vương Hồng Sển, dẫn lời Sáu Xưởng, đặt sự ra đời của gánh vào năm 1925,[9] còn Hoàng Kim ghi Nguyễn Ngọc Cương đổi tên gánh hát bội thừa kế từ mẹ thành Phước Cương và chuyển sang cải lương năm 1926.[10]

Kim Cương xuất hiện trên sân khấu từ khi còn sơ sinh; thời nhỏ, bà từng diễn cùng Bảy Nam và Năm Phỉ.[1][3] Các nguồn ghi khác nhau về lần xuất hiện đầu tiên: Mặc Lâm thuật lại rằng đoàn hát đón hai mẹ con một tuần sau khi bà chào đời và 18 ngày sau đó bà lên sân khấu; Tố Uyên ghi bà mới 18 ngày tuổi, còn Lê Văn Nghệ ghi 19 ngày tuổi.[11][12][3] Các vai sân khấu thời nhỏ của bà gồm Mẫu tử tình thâmNa Tra lóc thịt, đều do Bảy Nam viết.[3]

Khi chín tuổi, Kim Cương rời sân khấu để học tại một trường dòng. Mùa hè năm 1954, bà trở lại đoàn, hát Nụ cười sơn cước rồi diễn Giai nhân và ác quỷPhấn hậu cung.[3] Vai A Liễu trong Giai nhân và ác quỷ giúp bà được chú ý trong giới cải lương.[1][3] Trong hồi ký, Kim Cương cho biết ký giả Nguyễn Ang Ca của báo Tiếng Dội đặt cho bà biệt danh "kỳ nữ" sau khi vai diễn trong Giai nhân và ác quỷ được báo chí chú ý.[13] Kim Cương còn tham gia Phụng Nghi Đình, Lan và ĐiệpXử án Bàng Quý Phi sau khi rời trường dòng.[14]

Sự nghiệp

[sửa | sửa mã nguồn]

Từ cải lương sang kịch nói

[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Năm Phỉ qua đời cuối năm 1954, Kim Cương tham gia điều hành đoàn, trong khi Bảy Nam và Chín Bia làm cố vấn.[3] Nhà nghiên cứu Huỳnh Công Duẩn ghi rằng bà phụ trách đoàn Năm Phỉ–Kim Cương trong giai đoạn 1954–1957, sau đó chấm dứt hoạt động cải lương của đoàn để chuyển sang kịch nói.[15] Trong cuộc phỏng vấn với Radio Free Asia năm 2006, Kim Cương cho biết khoảng năm 1960 bà nhận ra sở trường biểu diễn của mình phù hợp hơn với kịch nói. Theo bà, loại hình này cho phép đề cập trực diện hơn các vấn đề xã hội; vì vậy, bà chuyển sang kịch nói và điện ảnh.[16]

Các nguồn không thống nhất về thời điểm hình thành Ban hoặc Đoàn kịch Kim Cương. Xuân Hướng ghi Ban Thoại kịch Kim Cương thành lập năm 1956;[5] Lê Văn Nghệ nêu các mốc 1957 và 1967;[3] nhà nghiên cứu sân khấu Nguyễn Hòa An ghi năm 1959,[17] Nguyễn Vũ Thành Đạt ghi đoàn do Kim Cương lập năm 1960,[1] còn nhà nghiên cứu Lưu Trung Thủy đặt thời điểm hình thành vào cuối năm 1967.[18]

Tác giả Trần Văn Khải ghi rõ danh sách của mình là lược kê theo trí nhớ; trong đó, ông xếp Kim Cương (Hoàng Dũng) vào đội ngũ nghệ sĩ thoại kịch và Ban Kim Cương Thoại kịch vào số các ban đang hoạt động.[19] Trong một khảo sát công bố năm 2025, nhà nghiên cứu Đào Lê Na đặt các đoàn Dân Nam, Tân Dân Nam, Kim Cương và Thẩm Thúy Hằng vào nhóm hình thành khoảng năm 1960, đồng thời xem các đơn vị này là những nhân tố quan trọng định hình diện mạo kịch nói miền Nam.[20]

Đoàn kịch Kim Cương

[sửa | sửa mã nguồn]

Trong Đoàn kịch Kim Cương, bà đồng thời diễn xuất, viết kịch bản, đạo diễn và quản lý. Nguyễn Vũ Thành Đạt ghi Kim Cương viết hơn 50 kịch bản dưới bút danh Hoàng Dũng.[1] Trong khi đó, nhà báo Thúy Bình nêu con số hơn 80 kịch bản trong bài tổng thuật về tọa đàm Kim Cương năm 2026.[21] Các tác phẩm thường được nhắc đến gồm Lá sầu riêng, Dưới hai màu áo, Tôi là mẹTrà hoa nữ.[1] Lưu Trung Thủy xem ban kịch của bà là một trong số ít đơn vị ở Sài Gòn dàn dựng và biểu diễn kịch dài, đồng thời xếp Kim Cương vào nhóm tác giả tiêu biểu của văn học kịch Sài Gòn trước năm 1975.[18] Nguyễn Hòa An cũng liệt kê Kim Cương, với bút danh Hoàng Dũng, trong số các tác giả tiêu biểu của kịch nói miền Nam giai đoạn 1954–1975.[17]

Về mô hình sản xuất trước năm 1975, Nguyễn Hòa An xếp Ban kịch Kim Cương vào khuynh hướng đề cao trưởng ban và diễn viên, coi trọng doanh thu, tính giải trí và khán giả đại trà. Theo cách phân loại này, thế mạnh của ban nằm ở diễn viên và trưởng đoàn; công việc đạo diễn thường do tác giả, trưởng ban hoặc diễn viên lâu năm kiêm nhiệm, thay vì tách thành một vị trí độc lập rõ ràng.[17]

Ngoài bốn tác phẩm trên, Lưu Trung Thủy còn ghi nhận Nước mắt con tôi, Cánh hoa tàn, Sắc hoa màu nhớ, Vùng bóng tối, Cuối đường hạnh phúc, Người nuôi hy vọng, Khát sốngTầm ca mùa xuân trong số các vở do Kim Cương viết và dàn dựng.[18] Trong các kỳ đại nhạc hội năm 1960, Ban Kim Cương trình diễn Nước mắt con tôiSau phút lỗi lầm.[22]

Dẫn Trần Văn Khải, Lưu Trung Thủy ghi Nước mắt con tôi là vở kịch dài đáng chú ý do Ban Kim Cương trình diễn năm 1960.[23] Trong khi đó, tại một chương trình học thuật của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh năm 2020, Kim Cương cho biết bà chấp bút Tôi là mẹ và đưa vở lên sân khấu năm 1962; theo lời bà, đây là vở kịch dài đầu tiên xuất hiện tại Sài Gòn.[24] Để giải quyết tình trạng thiếu diễn viên, bà chiêu mộ Vân Hùng, Xuân Phát, Phi Bằng, Thúy Hồng và Lan Phương, phần lớn chưa qua trường lớp. Trong Tôi là mẹ, đoàn kết hợp phần tân nhạc của Ban hợp ca Thăng Long với nhiều ca sĩ.[25] Kim Cương hồi tưởng rằng trong tuần diễn đầu tại rạp Thanh Bình, Tôi là mẹ được diễn bảy đêm; trước năm 1975, đoàn thường xuất hiện trong các chương trình đại nhạc hội.[26] Bà còn cho biết mình viết Hai mùa giáng sinh năm 1968 và Cánh hoa tàn trong thời gian mang thai.[3]

Em gái bà là Kim Quang không theo nghiệp diễn nhưng từng làm phó đoàn kịch nói Kim Cương, phụ trách tài chính và quản lý. Trong nhiều thập niên, Kim Quang còn đảm nhiệm công việc kỹ thuật, nhân sự và hậu trường của đoàn.[27][28] Đoàn có thời điểm phát triển lên hơn 70 diễn viên.[29] Nhà báo Thu Anh nhận xét các vở do Kim Cương viết chủ yếu khai thác phụ nữ, tình yêu, gia đình và những vấn đề xã hội ở miền Nam.[29]

Năm 1963, Kim Cương học diễn xuất và kịch câm tại Pháp.[3] Năm 1965, bà cùng nhà nghiên cứu âm nhạc Trần Văn Khê lưu diễn giới thiệu nghệ thuật dân tộc tại Pháp và Đức.[30] Năm 1988, bà tốt nghiệp đạo diễn tại Bulgaria; theo lời bà, khi dàn dựng kịch nước ngoài, đoàn điều chỉnh nội dung và cách diễn cho phù hợp với khán giả Việt Nam.[3]

Trần Văn Khê cùng Kim Cương lưu diễn tại Pháp và Đức năm 1965.

Phong cách sân khấu

[sửa | sửa mã nguồn]

Về hình thức, nhà nghiên cứu Huỳnh Công Duẩn xem kịch Kim Cương là một biểu hiện của tính dung hợp trong kịch nói Sài Gòn–Thành phố Hồ Chí Minh. Ông mô tả các vở của đoàn thường có câu chuyện trữ tình, giàu biểu cảm và gần với cải lương; ban nhạc sống đệm trực tiếp trong đêm diễn cũng tiếp nối một tập quán của sân khấu cải lương.[31] Kim Cương cho biết bà chịu ảnh hưởng của sân khấu Pháp, Bulgaria và cách làm kịch chuyên nghiệp của các nhà văn miền Bắc vào Nam, nhưng vẫn lựa chọn lối diễn Nam Bộ.[31] Trong một nghiên cứu trước đó, Huỳnh Công Duẩn cho rằng nền tảng văn hóa Nam Bộ thể hiện rõ ở nhóm vở viết về phụ nữ và người mẹ; ông cũng dẫn nhận xét của Trần Văn Khê rằng Kim Cương đã khai thác chiều sâu tâm lý nhân vật và Việt hóa Trà hoa nữ khi đưa tác phẩm lên sân khấu Việt Nam.[15]

Về đề tài, Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh ghi các vở của đoàn thường khai thác những tình huống éo le, cay đắng trong hiện thực xã hội; Kim Cương thường đảm nhiệm vai chính và nổi bật trong các vai bi kịch.[32] Một bài trên Hồn Việt xác định "tính cách quần chúng" và hình tượng người mẹ là hai đặc tính nổi bật của kịch nói Kim Cương.[33] Trong bài tường thuật chương trình vinh danh năm 2024, Thúy Bình mô tả kịch Kim Cương chủ yếu gồm các vở dài, thường là bi kịch, có cao trào cảm xúc gần với cải lương; hình tượng trung tâm là những người mẹ, người vợ và phụ nữ Việt Nam chịu nhiều gian khó.[34] Trong một bài tường thuật khác, Thúy Bình mô tả tư duy làm kịch của Kim Cương là lấy con người làm trung tâm, chú trọng chiều sâu tâm lý, đời sống gia đình – xã hội và các giá trị nhân văn.[21]

Trong nhóm tác phẩm về người mẹ, nhà báo Hoàng Oanh nhận xét phần lớn các vở làm nên tên tuổi của sân khấu Kim Cương xoay quanh đề tài này; các đoạn đối thoại và độc thoại về tình mẫu tử tạo nên một mạch kịch "đôn hậu và riêng biệt". Khi đối chiếu bản dựng năm 2013 với bản gốc của Bông hồng cài áo, Hoàng Oanh mô tả bản gốc có chất "mêlô" rõ hơn, cảnh trí tả thực và lối diễn chân thật, dung dị, sâu lắng.[35] Kim Cương phân biệt cách thể hiện giữa các tác phẩm: bà cho biết Huyền thoại mẹ, viết sau thời gian học thoại kịch ở Pháp, có văn phong phương Tây cùng cách dựng và diễn phóng khoáng hơn; còn Bông hồng cài áo kết hợp "đạo và đời" nên mang sắc thái đằm thắm, sâu hơn.[36] Về diễn xuất, nghệ sĩ ưu tú Thành Lộc nhấn mạnh tính thuần Việt trong kịch bản, lời thoại, hành động và xung đột nội tâm của nhân vật. Ông mô tả lối diễn của Kim Cương bằng cụm "trong giọng nói có nước mắt" và cho rằng lối diễn ấy ảnh hưởng đến nhiều thế hệ nghệ sĩ sau.[6] Thành Lộc cũng cho rằng hình tượng người mẹ trên sân khấu chịu ảnh hưởng sâu đậm từ Bảy Nam và Kim Cương.[37] Khi thuật lại lần Kim Cương trở lại với trích đoạn Lá sầu riêng năm 2026, Thúy Bình mô tả lối diễn của bà là nhẹ nhàng, sâu lắng và tập trung vào nội tâm nhân vật.[21]

Lê Khánh và Thành Lộc trước một vở kịch

Hoạt động sau năm 1975

[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 7 năm 1975, Kim Cương làm trưởng đoàn khi Đoàn kịch nói Kim Cương được tái lập.[38] Lưu Trung Thủy ghi rằng trong số hàng chục ban kịch hoạt động trước năm 1975, Ban kịch Kim Cương và Ban kịch Thẩm Thúy Hằng là hai đơn vị tiếp tục hoạt động sau năm 1975, lần lượt đổi tên thành Đoàn kịch nói Kim Cương và Đoàn kịch nói Bông Hồng.[18] Đoàn Kim Cương dựng lại Lá sầu riêng, Dưới hai màu áo, Trà hoa nữBông hồng cài áo, đồng thời dàn dựng các tác phẩm gắn với bối cảnh hậu chiến. Theo Lưu Trung Thủy, Chìa khóa đề cập việc cải tạo tư bản tư doanh tại các đô thị miền Nam; Men trắng viết về thanh niên xung phong đến những vùng khó khăn; Về nguồn mô tả đấu tranh của công nhân trước năm 1975; còn Hồi sinh tái hiện cuộc chiến đấu trong đô thị thời chiến.[39]

Ban kịch mang tên Thẩm Thúy Hằng là một trong hai đơn vị tiếp tục hoạt động sau năm 1975.

Kim Cương còn mời đạo diễn Đoàn Bá dựng một số vở Liên Xô và phối hợp với sân khấu phía Bắc thực hiện Con nai đen của Nguyễn Đình Thi[40]Lời nói dối cuối cùng của Lưu Quang Vũ.[1] Lưu Trung Thủy xếp đoàn Kim Cương và đoàn Thẩm Thúy Hằng trong nhóm bốn đoàn kịch chủ lực của Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1975 đến đầu thập niên 1990.[18]

Lưu Trung Thủy ghi đoàn dừng biểu diễn vào những năm đầu thập niên 1990.[41] Mai Nhật cũng cho biết đoàn dần ngưng hoạt động trong giai đoạn này do khó khăn chung của sân khấu.[25] Trong khi đó, Địa chí Tiền Giang ghi đoàn ngừng hoạt động năm 1996.[38]

Điện ảnh

[sửa | sửa mã nguồn]

Kim Cương tham gia hơn 45 phim tại miền Nam.[3] Lê Hồng Lâm dẫn lời Kim Cương cho biết vai điện ảnh đầu tiên của bà là một nữ y tá trong Lòng nhân đạo, phim do Phạm Văn Nhận đạo diễn và chuyển thể từ tiểu thuyết Tiếng súng đêm mưa của Phú Đức.[42] Trong giai đoạn 1955–1960, bà xuất hiện trong khoảng 20 phim, trong đó có Lưu Bình – Dương Lễ, Thoại Khanh – Châu TuấnLý Chơn Tâm cỡi củi.[42] Bà còn tham gia Ngọc Bồ Đề, Bích Câu kỳ ngộÁm ảnh; trong Ám ảnh, Kim Cương đóng vai Loan.[43]

Các nguồn ghi khác nhau về tên vai của Kim Cương trong Mưa rừng. Nguyễn Đức Hiệp gọi nhân vật K'Lai và ghi phim năm 1962,[44] trong khi Lê Hồng Lâm ghi bà đóng vai sơn nữ Phà Ca năm 1961; phim được quay tại Di Linh–Đà Lạt và trình chiếu năm 1963.[45] Lê Hồng Lâm cũng nhận định Thuyền ra cửa biển bắt đầu thể hiện rõ hơn sắc thái và ngôn ngữ điện ảnh, thay cho chất sân khấu của các phim thời đầu.[45]

Theo Lê Hồng Lâm, hãng Kim Cương phim ra đời vào cuối thập niên 1960,[45] trong khi Địa chí Tiền Giang ghi bà thành lập Công ty Điện ảnh Kim Cương năm 1970.[14] Theo Lê Hồng Lâm, phim đầu tiên của hãng là Biển động; thành công của phim tạo vốn để hãng tiếp tục thực hiện Mưa trong bình minhMột thoáng đam mê. Chiếc bóng bên đường là phim cuối cùng Kim Cương tự đầu tư; bà viết kịch bản và đóng vai chính cùng Kiều Chinh, Thành Được, còn phần hậu kỳ được thực hiện tại Hồng Kông.[46] Công trình Lịch sử điện ảnh Việt Nam xếp Biển động vào nhóm phim tư nhân Sài Gòn cuối chiến tranh có khuynh hướng hiện thực và phê phán xã hội.[47]

Nhà quay phim Đường Tuấn Ba cũng ghi Biển động, Mưa trong bình minhChiếc bóng bên đường (1972) là các phim của Kim Cương Film mà ông tham gia quay.[48]

Trong Đất khổ, Kim Cương đảm nhận một vai nhỏ là người mẹ chạy loạn ôm đứa con đã chết; bà cho biết cảnh quay được thực hiện trong một buổi tại nhà thờ Phú Cam, Huế.[49] Khi giới thiệu công trình của Nguyễn Đức Hiệp, Cục Nghệ thuật Biểu diễn cũng nêu Kim Cương trong số nghệ sĩ cải lương và kịch nói đồng thời hoạt động với tư cách diễn viên điện ảnh.[50]

Năm 1974, Kim Cương nhận giải Nữ diễn viên xuất sắc và giải Lời thoại xuất sắc tại Liên hoan phim châu Á lần thứ 20.[4] Năm 1985, Kim Cương tham gia Ban giám khảo Liên hoan phim Thành phố Hồ Chí Minh cùng Mai Lộc và Anh Đức.[51] Bà được phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú năm 1988 và Nghệ sĩ nhân dân năm 2011.[4] Lễ trao danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân diễn ra vào tháng 5 năm 2012.[1] Năm 2006, bà được ghi nhận Kỷ lục Việt Nam dành cho nữ nghệ sĩ viết nhiều kịch bản kịch nói nhất.[4]

Quan điểm nghề nghiệp

[sửa | sửa mã nguồn]

Kim Cương cho biết khoảng năm 1960 bà nhận thấy sở trường biểu diễn của mình phù hợp với thoại kịch hơn cải lương. Bà nói thoại kịch có thể phản ánh những vấn đề xã hội gần với thực tế và đề cập các khía cạnh sắc nét hơn của đời sống, nên chuyển sang kịch nói và điện ảnh.[16]

Trong buổi trao đổi với diễn viên trẻ năm 2019, bà xem mỗi đêm diễn là một tác phẩm trọn vẹn, không lặp lại. Diễn viên phải bắt đầu nhập vai từ khi nhận kịch bản, dành đủ thời gian tập luyện và thẩm thấu nhân vật; tài năng phải đi cùng kỷ luật, sự tôn trọng tập thể và khán giả. Bà phản đối tâm lý chỉ muốn đóng vai chính, đồng thời cho rằng một diễn viên có năng lực có thể tạo dấu ấn ở bất kỳ loại vai nào.[52]

Kim Cương gọi sân khấu là "đạo làm người" và yêu cầu nghệ sĩ làm nghề bằng toàn bộ tâm hồn để tạo được sự đồng cảm ở khán giả.[24] Trong chương trình vinh danh năm 2024, bà dẫn lời Bảy Nam, cho rằng mẹ đã truyền cho mình cả nghề để sống với sân khấu lẫn tấm lòng để sống với cuộc đời.[53] Về đề tài sáng tác, bà coi tình cảm là phẩm chất làm nên tính người và xem tình mẹ là một trong những tình cảm thiêng liêng nhất. Bà cho biết đã viết nhiều vở về tình mẹ con, trong đó có Lá sầu riêng, Huyền thoại mẹBông hồng cài áo.[36]

Về phương pháp, Kim Cương thừa nhận ảnh hưởng của sân khấu Pháp, Bulgaria và cách làm kịch chuyên nghiệp từ các nhà văn miền Bắc, nhưng chủ trương diễn theo kiểu Nam Bộ.[31] Huỳnh Công Duẩn xem sự kết hợp ấy là một phần tính dung hợp của kịch Kim Cương, thể hiện ở câu chuyện trữ tình, lối biểu cảm gần cải lương và việc dùng ban nhạc sống trong đêm diễn.[31]

Khi bàn về hướng phát triển sân khấu năm 2021, Kim Cương cho rằng các đơn vị phải thích ứng với điều kiện dịch bệnh, xây dựng thương hiệu và phong cách riêng, đồng thời tạo ra tác phẩm có khả năng đối thoại, phản biện với đời sống mà vẫn giữ sự phóng khoáng của Sài Gòn–Thành phố Hồ Chí Minh.[54]

Hoạt động xã hội

[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi giảm hoạt động sân khấu, Kim Cương tập trung vào các chương trình hỗ trợ nghệ sĩ và trẻ em. Quỹ học bổng mang tên Bảy Nam được lập theo nguyện vọng của mẹ bà; đến năm 2021, quỹ đã hoạt động bảy năm và trao học bổng cho hơn 200 học sinh có hoàn cảnh khó khăn là con em nghệ sĩ.[55] Riêng đợt trao tháng 2 năm 2021 có 30 suất học bổng.[55]

Hội Bảo trợ Bệnh nhân nghèo Thành phố Hồ Chí Minh phát động chương trình "Trái tim yêu thương", với sự tài trợ của Kim Cương và gia đình ông bà Dương Minh, nhằm hỗ trợ dài hạn 150 học sinh mồ côi do đại dịch COVID-19 đến hết lớp 12 và tiếp tục khi vào đại học.[56] Bà cũng tổ chức chương trình "Nghệ sĩ tri âm" trong hơn mười năm để hỗ trợ nghệ sĩ cao tuổi, đau ốm hoặc có hoàn cảnh khó khăn.[5] Năm 2021, Giải Mai Vàng lần đầu trao hạng mục đặc biệt "Nghệ sĩ trọn đời vì cộng đồng" cho Kim Cương; lễ trao giải diễn ra vào tháng 1 năm 2022.[57]

Ngoài ra, bà còn là nguyên ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Thành phố, phó chủ tịch Hội Bảo trợ người tàn tật và trẻ mồ côi Thành phố Hồ Chí Minh.[58]

Gia đình

[sửa | sửa mã nguồn]

Kim Cương kết hôn với nhà báo Trần Trọng Thức.[59] Con trai duy nhất của bà là Trần Trọng Gia Vinh.[60] Gia Vinh từng xuất hiện trên sân khấu khi sáu tuổi trong vai bé Sang của Lá sầu riêng.[61]

Tiếp nhận và vinh danh

[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà phê bình Nguyễn Thị Minh Thái nhận định Kim Cương thuộc số ít nghệ sĩ gần như sinh ra để sống trên sân khấu.[62] Trần Văn Khê nhận xét qua Trà hoa nữ, Kim Cương đã phát hiện chiều sâu tâm lý nhân vật và Việt hóa một vở kịch nước ngoài.[15] Trần Ngọc Giàu đánh giá bà là người định hình một dòng kịch hiện thực tâm lý và nhân văn.[6] Thành Lộc nhận định việc Kim Cương theo đuổi bản sắc Việt trong sáng tác và biểu diễn đã ảnh hưởng đến các thế hệ nghệ sĩ sau bà; ông đặc biệt nhắc đến ảnh hưởng của Bảy Nam và Kim Cương đối với cách thể hiện hình tượng người mẹ trên sân khấu miền Nam.[37]

Chị Hai Kim Cương là người Tây học, lý ra những vở chị dựng phải cổ xúy cho văn hóa phương Tây nhưng lạ là tác phẩm của chị đều tôn vinh những giá trị thuần Việt.

Đó là quan niệm, suy nghĩ làm nghề giản dị của một người yêu quê hương, đất nước.

Quan điểm và cách làm nghệ thuật của chị đã ảnh hưởng rất lớn đến chúng tôi

Thành Lộc, Báo Tuổi Trẻ[63]

Trần Ngọc Giàu cho biết việc xem Lá sầu riêng khi còn trẻ là một động lực khiến ông thi vào trường sân khấu; khi hoạt động nghề nghiệp, ông tiếp tục chịu ảnh hưởng của phong cách kịch Kim Cương, nhất là chất Nam Bộ, tính tình cảm và sự gần gũi với công chúng.[53] Kim Cương cũng đào tạo và dìu dắt diễn viên trẻ; đoàn của bà cung cấp diễn viên cho sân khấu Sài Gòn–Thành phố Hồ Chí Minh.[64]

Đạo diễn Trần Minh Ngọc nhận định kịch Kim Cương mở đầu cho các bước phát triển tiếp theo của sân khấu kịch Thành phố Hồ Chí Minh.[65] Nhà nghiên cứu Ngô Anh Đào xếp Đoàn kịch Kim Cương và Đoàn kịch Bông Hồng vào nhóm các đoàn tư nhân bước vào quá trình chuyên nghiệp hóa sau năm 1975, với chất lượng biểu diễn tăng so với giai đoạn trước.[66] Giáo sư, tiến sĩ Lê Thị Hoài Phương xem Đoàn kịch nói Kim Cương là đơn vị tiêu biểu nhất của hoạt động kịch nói tại Sài Gòn trước năm 1975; bà lưu ý kịch nói chủ yếu phát triển ở đô thị Sài Gòn, trong khi cải lương phổ biến rộng hơn trên toàn Nam Bộ.[67] Thạc sĩ Cao Tấn Lộc ghi trước năm 1975 có không quá mười sân khấu kịch và xếp Kim Cương trong nhóm nghệ sĩ tiêu biểu mà hoạt động của các sân khấu này góp phần tạo dựng tên tuổi.[68]

Tại tọa đàm về thoại kịch miền Nam năm 2026, tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu xem sân khấu Kim Cương là không gian lưu giữ ký ức tinh thần của đô thị, nơi nhân vật và khán giả cùng suy ngẫm về con người qua các câu chuyện gần gũi, không áp đặt thông điệp.[5] Tiến sĩ Lê Hồng Phước gọi đây là "di sản Kim Cương", gồm di sản diễn xuất, ký ức tập thể và các giá trị đạo lý, đặc biệt là đạo lý gia đình.[5] Trong một bài tường thuật khác, ông mô tả sân khấu này như một di sản đô thị, nơi ngôn ngữ đời thường được nghệ thuật hóa và khán giả nhận ra mình trong các bi kịch gia đình được giải quyết bằng lòng vị tha.[6]

Về việc bảo tồn, Trần Ngọc Giàu đề nghị nghiên cứu có hệ thống tư duy sáng tác và phong cách biểu diễn của dòng kịch Kim Cương, đồng thời số hóa kịch bản, vở diễn và tư liệu để phục vụ nghiên cứu và đào tạo.[37] Nghệ sĩ Nhân dân Nguyễn Thị Thanh Thúy, Phó giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh, gọi Đoàn kịch Kim Cương là một "dấu son" trong quá trình định hình sân khấu kịch nói phía Nam và nhấn mạnh yêu cầu tiếp tục đào tạo, dìu dắt lực lượng trẻ.[5]

Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang, nơi Kim Cương biểu diễn một đoạn vai Diệu năm 2026.

Năm 2025, Kim Cương nằm trong danh sách 60 cá nhân tiêu biểu của Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 1975–2025;[69] Lá sầu riêng cũng được chọn trong danh sách 50 tác phẩm văn học, nghệ thuật tiêu biểu của thành phố sau năm 1975.[70] Ngày 5 tháng 2 năm 2026, bà xuất hiện tại Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang trong chương trình "Kỳ nữ Kim Cương với thoại kịch miền Nam" và biểu diễn một đoạn vai Diệu trong Lá sầu riêng.[71]

Giải thưởng và ghi nhận

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Nữ diễn viên xuất sắc, Liên hoan phim châu Á lần thứ 20 (1974)[4]
  • Lời thoại xuất sắc, Liên hoan phim châu Á lần thứ 20 (1974)[4]
  • Nghệ sĩ ưu tú (1988)[4]
  • Kỷ lục Việt Nam dành cho nữ nghệ sĩ viết nhiều kịch bản kịch nói nhất (2006)[4]
  • Nghệ sĩ nhân dân (phong tặng năm 2011; trao danh hiệu tháng 5 năm 2012)[4][1]
  • Giải đặc biệt "Nghệ sĩ trọn đời vì cộng đồng" của Giải Mai Vàng năm 2021[57]
  • Cá nhân tiêu biểu của Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 1975–2025[70]

Tác phẩm và vai diễn

[sửa | sửa mã nguồn]

Cải lương

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Mẫu tử tình thâm[3]
  • Na Tra lóc thịt[3]
  • Giai nhân và ác quỷ[3]
  • Phụng Nghi Đình[14]
  • Lan và Điệp[14]
  • Xử án Bàng Quý Phi[14]

Kịch nói

[sửa | sửa mã nguồn]

Điện ảnh

[sửa | sửa mã nguồn]

Kịch bản

[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới bút danh Hoàng Dũng, Kim Cương viết các kịch bản sau:[1][15][18]

  • Lá sầu riêng
  • Dưới hai màu áo
  • Trà hoa nữ
  • Tôi là mẹ
  • Nước mắt con tôi
  • Hai mùa giáng sinh[3]
  • Cánh hoa tàn
  • Sắc hoa màu nhớ
  • Vùng bóng tối
  • Cuối đường hạnh phúc
  • Người nuôi hy vọng
  • Khát sống
  • Tầm ca mùa xuân
  • Vực thẳm chiều cao
  • Huyền thoại mẹ[36]
  • Bông hồng cài áo
  • Mẹ trên sân khấu Kim Cương (2012): Kim Cương là tác giả; sách do Nhà xuất bản Văn hóa - Văn nghệ phát hành, dày 290 trang.[73] Sách tuyển ba kịch bản về đề tài người mẹ là Lá sầu riêng, Huyền thoại mẹBông hồng cài áo, cùng tư liệu, hình ảnh và các bài viết về sân khấu Kim Cương.[36] Khi giới thiệu tuyển tập, Kim Cương xem ba vở như ba giai đoạn trưởng thành nghề nghiệp: Huyền thoại mẹ được viết sau thời gian học thoại kịch tại Pháp, còn Bông hồng cài áo ra đời sau ngày đất nước thống nhất và kết hợp chủ đề đạo với đời.[36]
  • Sống cho người – Sống cho mình: Hồi ký nghệ sĩ Kim Cương (2016): sách dày 366 trang, do Nhà xuất bản Văn hóa - Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh và Công ty Sách Phương Nam ấn hành.[74] Sách được giới thiệu tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày 10 tháng 5 và phát hành toàn quốc ngày 12 tháng 5 năm 2016.[75] Kim Cương cho biết đã bắt đầu viết hồi ký từ năm 1973, nhưng công việc bị gián đoạn trong nhiều thập niên.[76] Hồi ký gồm 25 chương, chia thành bốn phần: Tuổi thơ nghiệt ngã, Sân khấu và cuộc đời, Những người trong đời tôiSống và yêu.[77] Năm 2022, Gia Vinh đồng hành và chi trả toàn bộ kinh phí cho dự án chuyển hồi ký của bà sang sách nói.[60]

Chương trình và sự kiện

[sửa | sửa mã nguồn]
Live show Tạ ơn đời được công bố tổ chức tại Nhà hát Thành phố Hồ Chí Minh năm 2012.
  • Tạ ơn đời (2012): tại họp báo ngày 14 tháng 7, live show được công bố sẽ diễn trong ba đêm 6–8 tháng 8 tại Nhà hát Thành phố Hồ Chí Minh; Vũ Minh làm tổng đạo diễn, Nguyễn Thị Minh Ngọc viết kịch bản chương trình và Thành Lộc dẫn chuyện.[78]
  • Nghệ sĩ tri âm (từ 2014): chương trình do Kim Cương khởi xướng nhằm hỗ trợ văn nghệ sĩ gặp khó khăn vào dịp Tết.[79]
Trụ sở Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh
  • Vinh danh NSND Kim Cương và Nghệ sĩ tri âm lần thứ 10 (được công bố tổ chức ngày 28 tháng 1 năm 2024): thông báo trước sự kiện cho biết chương trình tại phim trường HTV dự kiến gồm các trích đoạn kịch và nhạc phẩm từng sử dụng trong kịch Kim Cương.[80]
  • Kỳ nữ Kim Cương với thoại kịch miền Nam (2026): tọa đàm do Sở Văn hóa và Thể thao cùng Hội Sân khấu Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức; Kim Cương trở lại vai Diệu trong trích đoạn Lá sầu riêng.[71]

Chú thích

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 Nguyễn Vũ Thành Đạt (ngày 28 tháng 3 năm 2013). ""Kỳ nữ" Kim Cương". Báo ảnh Việt Nam. Thông tấn xã Việt Nam. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2026.
  2. 1 2 Gia Bảo (ngày 16 tháng 2 năm 2023). "NSND Kim Cương đón tuổi 86, bộc bạch ước nguyện cuối cùng". VietnamNet. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2026.
  3. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 Lê Văn Nghệ (ngày 30 tháng 6 năm 2017). "NSND Kim Cương: Kỳ nữ kịch trường". Công an Nhân dân. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2026.
  4. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 Tống Phước Bảo (ngày 14 tháng 9 năm 2024). "NSND Kim Cương: Thương một mối tình, giữ gìn tâm đạo". Công an Nhân dân. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2026.
  5. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 Xuân Hướng (ngày 7 tháng 2 năm 2026). "Tôn vinh kỳ nữ Kim Cương và di sản thoại kịch Nam Bộ". Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2026.
  6. 1 2 3 4 Anh Vũ (ngày 6 tháng 2 năm 2026). "NSND Kim Cương - người đặt nền móng cho kịch nói miền Nam". Thanh Niên. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2026.
  7. 1 2 Phạm Công Luận (ngày 13 tháng 2 năm 2018). "100 năm sân khấu cải lương: Nguyễn Ngọc Cương - người khai sáng". Tuổi Trẻ. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2026.
  8. Linh Đoan (ngày 30 tháng 1 năm 2025). "Hai người mẹ tài danh của nghệ sĩ Kim Cương". Tuổi Trẻ. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2026.
  9. Vương, Hồng Sển (1968). Hồi-ký 50 năm mê hát. Cơ-sở xuất bản Phạm Quang Khai. tr. 89. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2026.
  10. Hoàng Kim (ngày 22 tháng 5 năm 2021). "Những gia tộc cải lương lừng danh: Gánh hát Phước Cương diễn trên đất Pháp". Thanh Niên. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2026.
  11. Mặc Lâm (ngày 21 tháng 9 năm 2008). "Kỳ nữ Kim Cương và tuyệt tác Lá Sầu Riêng". Radio Free Asia. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2026.
  12. Tố Uyên (ngày 22 tháng 1 năm 2021). "NSND Kim Cương trải lòng về quãng đường hoạt động nghệ thuật". VOV.VN. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2026.
  13. Kim Cương (ngày 8 tháng 5 năm 2016). "Hồi ký Kỳ nữ Kim Cương - Kỳ 4: Vào nghiệp cầm ca". Tuổi Trẻ. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2026.
  14. 1 2 3 4 5 Tỉnh ủy Tiền Giang (2005). Địa chí Tiền Giang. Quyển 2. Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Tiền Giang và Trung tâm UNESCO Thông tin Tư liệu Lịch sử và Văn hóa Việt Nam. tr. 1253. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2026.
  15. 1 2 3 4 Huỳnh Công Duẩn (tháng 5 năm 2017). "Từ kịch nói Sài Gòn - Nam Bộ đến kịch nói Thành phố Hồ Chi Minh". Trường Đại học Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2026.
  16. 1 2 "Behind The Scenes With Two Vietnamese Actresses". Radio Free Asia (bằng tiếng Anh). ngày 13 tháng 6 năm 2006. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2026.
  17. 1 2 3 Nguyễn Hòa An (ngày 26 tháng 10 năm 2024). "Đạo diễn kịch nói Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1954 đến năm 1975". Hội đồng Lý luận, Phê bình Văn học, Nghệ thuật Trung ương. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2026.
  18. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Lưu, Trung Thủy (2015). "Kịch nói trong đời sống văn học-nghệ thuật Thành phố Hồ Chí Minh". Tạp chí Phát triển Khoa học & Công nghệ. 18 (X4): 51. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2026.
  19. Trần, Văn Khải (1966). Nghệ thuật sân khấu Việt Nam: Hát bội, cải lương, thoại kịch, thú xem diễn kịch. Nhà sách Khai Trí. tr. 247–248. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2026.
  20. Đào, Lê Na (ngày 13 tháng 10 năm 2025). "Kịch nói miền Nam Việt Nam 1954-1975 một khảo sát về thể loại và diễn ngôn tư tưởng". Khoa Văn học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2026.
  21. 1 2 3 Thúy Bình (ngày 5 tháng 2 năm 2026). "NSND Kim Cương ở tuổi 90 vẫn lay động khán giả". Sài Gòn Giải Phóng. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2026.
  22. Trần, Văn Khải (1966). Nghệ thuật sân khấu Việt Nam: Hát bội, cải lương, thoại kịch, thú xem diễn kịch. Nhà sách Khai Trí. tr. 241. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2026.
  23. Lưu, Trung Thủy (2015). "Kịch nói trong đời sống văn học-nghệ thuật Thành phố Hồ Chí Minh". Tạp chí Phát triển Khoa học & Công nghệ. 18 (X4): 50. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2026.
  24. 1 2 Hương Nhu (ngày 29 tháng 12 năm 2020). "Cà phê học thuật Nhân văn: "Kịch nói phía Nam, dấu ấn các thế hệ"". Khoa Văn học và Ngôn ngữ học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2026.
  25. 1 2 Mai Nhật (ngày 7 tháng 5 năm 2025). "Nghệ sĩ Kim Cương - 'kỳ nữ' sân khấu Sài Gòn". VnExpress. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2026.
  26. Lê Vân (ngày 17 tháng 8 năm 2023). "Thoại kịch Kim Cương "trấn rạp"". Thanh Niên. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2026.
  27. Linh Đoan (ngày 23 tháng 1 năm 2019). "Tình cảm của mọi người là huy chương quý giá". Tuổi Trẻ. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2026.
  28. Hoàng Kim (ngày 23 tháng 1 năm 2019). "NSND Kim Cương lo quà tết cho nghệ sĩ nghèo". Thanh Niên. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2026.
  29. 1 2 Thu Anh (ngày 22 tháng 1 năm 2024). "TV show features cải lương stars". Việt Nam News (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2026.
  30. Ngọc Tuyết (ngày 15 tháng 10 năm 2020). "Nhiều ảnh tư liệu quý tại triển lãm "NSND Bảy Nam - Người mẹ trên sân khấu kịch Miền Nam"". Cổng Thông tin điện tử Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2026.
  31. 1 2 3 4 Huỳnh Công Duẩn (ngày 20 tháng 11 năm 2024). "Tính dung hợp trong kịch nói ở Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh". Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2026.
  32. Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh, tập 3: Nghệ thuật. Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh. 1998. tr. 164–165. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2026.
  33. Hồn Việt. Hội Nhà văn Việt Nam. 2012. tr. 10. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2026.
  34. Thúy Bình (ngày 29 tháng 1 năm 2024). "Chương trình Ngân mãi Chuông vàng vinh danh "Kỳ nữ Kim Cương"". Sài Gòn Giải Phóng. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2026.
  35. Hoàng Oanh (ngày 2 tháng 8 năm 2013). "Tình mẹ trong Bông hồng cài áo". Tuổi Trẻ. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 2 năm 2025. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2026.
  36. 1 2 3 4 5 6 Hoàng Oanh (ngày 3 tháng 8 năm 2012). "NSND Kim Cương: Có ngàn cách để hiếu thảo". Tuổi Trẻ. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2026.
  37. 1 2 3 Trần Hồ Lam (ngày 5 tháng 2 năm 2026). "NSƯT Thành Lộc: "Chị Kim Cương đừng sợ, bản sắc Việt vẫn mãi còn trên sân khấu"". Phụ nữ Việt Nam. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2026.
  38. 1 2 Tỉnh ủy Tiền Giang (2005). Địa chí Tiền Giang. Quyển 2. Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Tiền Giang và Trung tâm UNESCO Thông tin Tư liệu Lịch sử và Văn hóa Việt Nam. tr. 1254. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2026.
  39. 1 2 3 4 5 6 Lưu, Trung Thủy (2015). "Kịch nói trong đời sống văn học-nghệ thuật Thành phố Hồ Chí Minh". Tạp chí Phát triển Khoa học & Công nghệ. 18 (X4): 51–52. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2026.
  40. Nguyễn Thùy Trang. "Những chiều sâu triết lý trong kịch của Nguyễn Đình Thi" (PDF). phần "Đặt vấn đề". Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 19 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2026.
  41. Lưu, Trung Thủy (2015). "Kịch nói trong đời sống văn học-nghệ thuật Thành phố Hồ Chí Minh". Tạp chí Phát triển Khoa học & Công nghệ. 18 (X4): 55. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2026.
  42. 1 2 3 Lê, Hồng Lâm (2020). Người tình không chân dung: Khảo cứu điện ảnh Sài Gòn 1954–1975. Sách Tao Đàn. tr. 223. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2026.
  43. 1 2 3 4 Quý Long; Kim Thư (2012). Phụ nữ dấu ấn thời gian và những gương mặt nổi tiếng. Nhà xuất bản Lao động – Xã hội. tr. 299. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2026.
  44. 1 2 Văn Bảy (ngày 4 tháng 10 năm 2023). "Nhà nghiên cứu Nguyễn Đức Hiệp: 'Lịch sử điện ảnh Việt Nam có một câu chuyện riêng biệt'". Thể thao và Văn hóa. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2026.
  45. 1 2 3 4 Lê, Hồng Lâm (2020). Người tình không chân dung: Khảo cứu điện ảnh Sài Gòn 1954–1975. Sách Tao Đàn. tr. 224. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2026.
  46. 1 2 Lê, Hồng Lâm (2020). Người tình không chân dung: Khảo cứu điện ảnh Sài Gòn 1954–1975. Sách Tao Đàn. tr. 225. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2026.
  47. Lịch sử điện ảnh Việt Nam. Quyển 1. Cục Điện ảnh. 2003. tr. 442. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2026.
  48. 1 2 3 4 Vũ Liên (ngày 6 tháng 6 năm 2020). "Nhà quay phim Đường Tuấn Ba: 'Rũ bụi trần gian'". Thế giới Điện ảnh. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2026.
  49. 1 2 Hương Trà (ngày 27 tháng 3 năm 2008). "Đất khổ - Một bản tư liệu quý". Tuổi Trẻ. Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2026.
  50. Phương Anh (ngày 29 tháng 10 năm 2023). ""Lịch sử sân khấu kịch và điện ảnh Việt Nam" tái hiện gần 100 năm ký ức về kịch nghệ và điện ảnh Việt Nam". Cục Nghệ thuật Biểu diễn. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2026.
  51. Diễn viên điện ảnh Việt Nam. Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin. 1994. tr. 207. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2026.
  52. Ngọc Tuyết (ngày 10 tháng 3 năm 2019). "NSND Kim Cương: Không thể tự mãn với nghệ thuật!". Cổng Thông tin điện tử Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2026.
  53. 1 2 Linh Đoan (ngày 29 tháng 1 năm 2024). "NSND Kim Cương: Má nói đi hát là cái đạo làm người". Tuổi Trẻ. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2026.
  54. Ngọc Diệp (ngày 17 tháng 12 năm 2021). "Kịch nói Việt Nam 100 năm tuổi". Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 5 năm 2026. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2026.
  55. 1 2 Ngọc Tuyết (ngày 3 tháng 2 năm 2021). "Trao 30 suất học bổng mang tên NSND Bảy Nam". Cổng Thông tin điện tử Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2026.
  56. Minh Khang (ngày 13 tháng 12 năm 2021). "Hội Bảo trợ Bệnh nhân nghèo TPHCM chăm lo cho 150 trẻ mồ côi vì dịch Covid-19". Cổng Thông tin điện tử Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2026.
  57. 1 2 Minh Hiệp (ngày 20 tháng 1 năm 2022). "Giải Mai Vàng năm 2021 lần đầu vinh danh "Nghệ sĩ trọn đời vì cộng đồng"". Cổng Thông tin điện tử Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2026.
  58. Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (2025). Quyết định về việc tặng Bằng khen của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố cho các tập thể, cá nhân đã có đóng góp tích cực, quan trọng đối với sự phát triển của văn học, nghệ thuật Thành phố Hồ Chí Minh 50 năm sau ngày đất nước thống nhất (Báo cáo). Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. tr. 9. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2026.
  59. Tuy Hòa (ngày 24 tháng 4 năm 2025). "Kỳ nữ Kim Cương được vinh danh cá nhân tiêu biểu TP.HCM 1975-2025". Báo Nông nghiệp và Môi trường. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2026.
  60. 1 2 Gia Bảo (ngày 25 tháng 3 năm 2022). "'Đại gia ngầm' đứng sau cuộc đời NSND Kim Cương". VietnamNet. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2026.
  61. Hà Tùng Long (ngày 15 tháng 10 năm 2020). "Nhiều nghệ sĩ đến dự triển lãm 100 bức ảnh để đời của NSND Bảy Nam". Dân trí. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2026.
  62. Nguyễn, Thị Minh Thái (1999). Sân khấu và tôi. Nhà xuất bản Sân khấu. tr. 169. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2026.
  63. 1 2 Linh Đoan (ngày 6 tháng 2 năm 2026). "Kỳ nữ Kim Cương với thoại kịch miền Nam". Tuổi Trẻ. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 5 năm 2026. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2026.
  64. "Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng thăm, chúc Tết tại TPHCM". Báo Điện tử Chính phủ. Thông tấn xã Việt Nam. ngày 2 tháng 2 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2026.
  65. Linh Đoan (ngày 21 tháng 11 năm 2023). "Đã nói kịch thành phố thì phải nhắc đến kịch Kim Cương". Tuổi Trẻ. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 4 năm 2025. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2026.
  66. Ngô Anh Đào (ngày 16 tháng 4 năm 2020). "Diện mạo đa dạng của sân khấu kịch nói thành phố Hồ Chí Minh". Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2026.
  67. Lê, Thị Hoài Phương (ngày 26 tháng 11 năm 2025). "Một số khuynh hướng nghệ thuật của sân khấu Việt Nam trong 50 năm sáng tạo và phát triển (1975–2025)". Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 2 năm 2026. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2026.
  68. Cao, Tấn Lộc (ngày 28 tháng 7 năm 2025). "Một số vấn đề và giải pháp về quản lý sân khấu kịch nói xã hội hóa tại Thành phố Hồ Chí Minh". Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 6 năm 2026. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2026.
  69. Ngân Trần (ngày 24 tháng 4 năm 2025). "Tôn vinh 60 cá nhân tiêu biểu trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 1975- 2025". Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 8 năm 2026. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2026.
  70. 1 2 Đắc Việt (ngày 4 tháng 7 năm 2025). "Sống trọn lòng với đời, với nghề!". Nhân Dân. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2026.
  71. 1 2 3 Linh Bảo (ngày 5 tháng 2 năm 2026). "Tọa đàm Kỳ nữ Kim Cương với thoại kịch miền nam". Nhân Dân. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2026.
  72. Lưu Đình Triều; Lê Vân (ngày 10 tháng 8 năm 2023). "Chớp bóng - ngành hái ra tiền". Thanh Niên. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 2 năm 2026. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2026.
  73. "Mẹ trên sân khấu Kim Cương". Thư viện Khoa học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2026.
  74. "Sống cho người – Sống cho mình: Hồi ký nghệ sĩ Kim Cương". Thư viện Khoa học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2026.
  75. Q. Thi (ngày 10 tháng 5 năm 2016). "Kim Cương tiết lộ 3 năm viết hồi ký". Tuổi Trẻ. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 2 năm 2026. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2026.
  76. Thùy Phương (ngày 11 tháng 5 năm 2016). ""Kỳ nữ" Kim Cương tiết lộ những sự thật gai người trong hồi ký". Gia đình và Xã hội. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2026.
  77. Hải Dương. "Nghệ sĩ Nhân dân Kim Cương: Sống cho người – Sống cho mình". AIDS và cộng đồng: 4. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2026.
  78. Đ.Ha. (ngày 15 tháng 7 năm 2012). "NSND Kim Cương và live show "Tạ ơn đời"". Sài Gòn Giải Phóng. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2026.
  79. Ngọc Tuyết (ngày 25 tháng 12 năm 2019). "NSND Kim Cương tiếp tục đồng hành cùng nghệ sĩ nghèo". Cổng Thông tin điện tử Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2026.
  80. Hoàng Kim (ngày 2 tháng 1 năm 2024). "HTV vinh danh NSND Kim Cương và chương trình 'Nghệ sĩ tri âm'". Thanh Niên. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2026.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]