Bước tới nội dung

Kim Chương Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Kim Chương Tông
金章宗
Hoàng đế Trung Hoa
Hoàng đế Đại Kim
Trị vì20 tháng 1 năm 118929 tháng 12 năm 1208
(19 năm, 344 ngày)
Tiền nhiệmKim Thế Tông
Kế nhiệmKim Vệ Thiệu Vương
Thông tin chung
Sinh(1168-08-31)31 tháng 8, 1168 [1]
Mất29 tháng 12, 1208(1208-12-29) (40 tuổi)[1]
Trung Quốc
An tángĐạo lăng[2]
Thê thiếpXem văn bản.
Hậu duệ
Tên thật
Hoàn Nhan Ma Đạt Cát (完顏麻達葛)
Đổi thành Hoàn Nhan Cảnh (完颜璟) năm 1186
Niên hiệu
Minh Xương: 1190—1196
Thừa An: 1196—1200
Thái Hòa: 1201—1208
Thụy hiệu
Hiến Thiên Quang Vận Nhân Văn Nghĩa Vũ Thần Thánh Anh Hiếu Hoàng đế (憲天光運仁文義武神聖英孝皇帝)[2]
Miếu hiệu
Chương Tông (章宗)
Tước hiệuHoàng đế
Triều đạiNhà Kim
Thân phụKim Hiển Tông Hoàn Nhan Doãn Cung[3]
Thân mẫuHiếu Ý hoàng hậu Đồ Đan thị

Kim Chương Tông (1168-1208) là vị vua thứ sáu của nhà Kim. Ông tại vị từ năm 1190 đến năm 1208. Ông tên thật là Hoàn Nhan Ma Đạt Cát, tháng 4 năm 1186 được Kim Thế Tông đổi thành Hoàn Nhan Cảnh.[4]

Lịch sử

[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1178, ông được phong làm Kim Nguyên quận vương. Tháng 6 năm 1185, cha ông là Hoàn Nhan Doãn Cung mất. Tháng 12 năm đó ông được phong làm Nguyên vương, kiêm chức phán quan phủ Đại Hưng. Tháng 5 năm 1186, ông được giao giữ chức thượng thư hữu thừa tướng. Tháng 11 năm đó tại điện Khánh Hòa, ông được lập làm hoàng thái tôn. Đầu năm 1189, Thế Tông mất, ông kế vị.[4]

Kim Chương Tông là vị vua tôn sùng văn hóa Hán, khi lên ngôi, ông tiến hành rất nhiều biện pháp phổ biến văn hóa Hán, mở rộng phạm vi hòa hợp giữa các dân tộc, khiến văn hóa Kim được nâng lên một tầm cao mới, hoàn toàn thoát khỏi ảnh hưởng của văn hóa Khiết Đan.

Hoàn Nhan Cảnh cũng từng đem quân đánh Nam Tống, bắt triều đình Nam Tống phải chịu những điều khoản giảng hòa nhục nhã theo Hòa nghị Gia Định năm 1208 như Tống tôn Kim làm bác, tăng thêm mỗi năm cống phẩm phải nộp như bạc 30 vạn lạng, lụa sống 30 vạn thếp, "tiền khao quân" 300 vạn lạng. Đổi lại nhà Kim hoàn trả cho Nam Tống những vùng đất mà Kim đã chiếm được trong cuộc chiến năm 1206.[5]

Tuy nhiên, đến thời trung hậu kì, triều Kim bắt đầu xuống dốc khi ngoại thích là hoàng hậu Lý thị và 2 vị vua bất tài lên nắm quyền, càng thúc đẩy kim vào sự mất nước đang kêu vang. Tháng 11 âm lịch năm 1208, Hoàn Nhan Cảnh bệnh chết, không còn con trai nối dõi. Hoàng thúc Vệ Thiệu Vương Hoàn Nhan Vĩnh Tế cùng thuộc hạ giả lập di chiếu, lên ngôi Hoàng đế.

Niên hiệu

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Minh Xương: 1190—1196
  • Thừa An: 1196—1200
  • Thái Hòa: 1201—1208

Quyến thuộc

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Khâm Hoài hoàng hậu Bồ Sát thị (蒲察氏, ? - 1180), con gái Việt quốc công Bồ Sát Đỉnh Thọ (蒲察鼎寿) và Trịnh quốc Công chúa - con gái Kim Hi Tông, thuở nhỏ được một người con gái khác của Hi Tông là Kì quốc Công chúa nuôi dưỡng. Nguyên phối thê tử, kết hôn năm Đại Định thứ 23 (1186), phong Kim Nguyên Quận vương Phu nhân (金源郡王夫人) rồi thăng Vương phi và qua đời không lâu sau đó.
    • Giáng vương Hoàn Nhan Hồng Dụ: con trưởng. Sinh năm 1186, mất tháng 10 năm 1188. Năm Minh Xương thứ 3 (1192), truy phong làm Giáng vương, ban cho tên gọi Hồng Dụ.
  • Nguyên phi Lý Sư Nhi (李師兒, ? - 1209), cha là tặng Tây quận công Lý Tương (李湘), mẹ là Vương Phán Nghê (王盻兒). Gia cảnh cùng khổ, nhập cung làm cung nữ, nhan sắc xinh đẹp lại thông minh nên được Chương Tông sủng ái bậc nhất, sơ phong Chiêu dung (昭容), sau thăng Thục phi (淑妃). Chương Tông yêu thích Lý thị, có ý muốn lập làm Kế hậu nhưng vì bị triều đình phản đối nên việc không thành, cải phong Nguyên phi (元妃) nhưng đối đãi y như Hoàng hậu. Chương Tông băng, Hoàn Nhan Vĩnh Tế vu cáo Lý nguyên phi dùng tà thuật nguyền rủa nên ban bà tự sát, phong hiệu cũng bị phế trừ. Đến thời Kim Tuyên Tông, Lý thị được phục vị, gia quyến cũng được ân xá.
    • Cát vương Hoàn Nhan Thắc Lân: con út. Sinh tháng 8 năm 1202, phong làm Cát vương. Năm 1203 mất.
  • Chiêu nghi Giáp Cốc thị (夹谷氏), con gái Mật quốc công Giáp Cốc Thanh Thần (夹谷清臣).
  • Tư Minh phu nhân Lâm thị (林氏)
    • Kinh vương Hoàn Nhan Hồng Tĩnh: con thứ hai, tên khai sinh là A Hổ Lại, Sinh năm 1192. Mất năm 1193. Năm 1199 truy phong làm Kinh vương, ban tên Hồng Tĩnh, gia thêm chức khai phủ nghi đồng tam ti.
  • Các thê thiếp khác
    • Vinh vương Hoàn Nhan Hồng Hi: con trai thứ ba, tên khai sinh Ngoa Lỗ Bất. Sinh năm 1192, chưa đủ tháng đã chết. Năm 1199 truy phong làm Vinh vương, ban cho tên gọi Hồng Hi, gia thêm chức khai phủ nghi đồng tam ti.
    • Anh vương Hoàn Nhan Hồng Diễn: con trai thứ tư, tên khai sinh Tát Cải. Sinh năm 1193, mất sớm. Năm 1199 truy phong làm Anh vương, ban tên gọi Hồng Diễn, gia thêm chức khai phủ nghi đồng tam ti.
    • Thọ vương Hoàn Nhan Hồng Huy: con trai thứ năm, tên khai sinh Ngoa Luận. Sinh tháng 5 năm 1197, đủ tháng phong làm Thọ vương. Tháng 6 nhuận mắc bệnh, tháng 10 mất.
  • Giả thị (賈氏, ? - 1209), phong Thừa ngự (承御). Khi Chương Tông băng thì đang mang thai, bị Hoàn Nhan Vĩnh Tế vu cáo mang thai giả nên bị xử tử, đến thời Tuyên Tông thì được ân xá.
  • Phạm thị (范氏), phong Thừa ngự (承御). Khi Chương Tông băng thì đang mang thai, bị Hoàn Nhan Vĩnh Tế dàn cảnh động thai, sau đó sinh hạ một công chúa nên bị đưa đi xuất gia tu hành.
    • Thuận quốc Công chúa (顺国公主), con gái thứ ba, từng được hứa gả cho Thành Cát Tư Hãn.

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ a b Theo lịch Gregory đón trước.
  2. ^ a b Kim sử, Quyển 12: Bản kỷ - Chương Tông 4.
  3. ^ Truy tôn.
  4. ^ a b Kim sử, Quyển 9: Bản kỷ - Chương Tông 1.
  5. ^ Kim sử - Quyển 98: Liệt truyện 36
Tiền nhiệm:
Thế Tông Hoàn Nhan Ung
Hoàng đế nhà Kim
1189-1208
Kế nhiệm:
Vệ Thiệu Vương Hoàn Nhan Vĩnh Tế