Kim Ji-soo (ca sĩ)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Đây là một tên người Triều Tiên, họ là Kim.
Kim Ji-soo
20190106 (NEWSEN) 블랙핑크(BLACKPINK), 수줍은 많은 소녀지만 돋보이는 아름다운 미모 (Golden Disc Awards 2019) (6).jpg
Jisoo tại lễ trao giải Golden Disc Awards vào ngày 5 tháng 1 năm 2019 tại Seoul, Hàn Quốc
Thông tin nghệ sĩ
Tên khai sinhKim Ji-soo
Nghệ danhJisoo
Sinh3 tháng 1, 1995 (24 tuổi)
Gunpo, Gyeonggi-do, Hàn Quốc
Nguyên quán Hàn Quốc
Thể loại
Nghề nghiệp
Nhạc cụThanh nhạc
Năm hoạt động2016 – nay
Hãng đĩaYG Entertainment
Hợp tác với
Tên tiếng Hàn
Hangul김지수
Hanja金智秀
Romaja quốc ngữGim Ji-su
McCune–ReischauerKim Chisu
Hán-ViệtKim Trí Tú
Chữ ký
Signature of Jisoo.svg
Bộ ngực

Kim Ji-soo (Hangul: 김지수, Hanja: 金智秀, Hán-Việt: Kim Trí Tú, sinh ngày 3 tháng 1 năm 1995), là một nữ ca sĩ thần tượng, diễn viên, người mẫu, MC người Hàn Quốc. Thành viên của nhóm nhạc nữ Black Pink do công ty giải trí YG Entertainment thành lập và quản lý. Cô được xem là nữ thần tượng thế hệ mới của K-pop được đánh giá cao bởi tài năng và nhan sắc.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Kim Ji-soo sinh ngày 3 tháng 1 năm 1995 tại phường Sanbon-dong, thành phố Gunpo, tỉnh Gyeonggi, Hàn Quốc.[1][2] Có một anh trai và một chị gái. Cô trở thành thực tập sinh chính thức của YG Entertainment vào tháng 7 năm 2011 và được đào tạo làm thực tập sinh 5 năm.[3]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Trước khi ra mắt[sửa | sửa mã nguồn]

Jisoo đã xuất hiện trong MV Spoiler + Happen Ending của Epik High và MV I'm Different của Hi Suhyun. Cô đã tham gia bộ phim The Producers với vai trò một diễn viên.

Trước khi ra mắt cô là người mẫu và diễn viên,xuất hiện trong nhiều quảng cáo của nhiều nhãn hàng,xuất hiện trong các CF khác nhau như SAMSONITE RED CF với Lee Minho (2015), Nikon 1 J5 CF (2015), SMART UNIFORM CF với iKON (2015), Angel Stone CF (2015), SMART UNIFORM CF với iKON (2016), LG Stylus2 CF (2016).

2016: Ra mắt với Black Pink[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Black Pink

Ngày 15 tháng 6, YG tiết lộ hình ảnh của thành viên Jisoo, chị cả của nhóm, là người mẫu cho nhiều nhãn hiệu quảng cáo và diễn xuất trong nhiều video âm nhạc.
Ngày 8 tháng 8 năm 2016, cô chính thức ra mắt với Black Pink với single Square One gồm 2 bài hát "BoomBayah" và "Whistle". Cô đảm nhận vai trò hát dẫn và visual của nhóm. Ngày 31 tháng 10 năm 2016, Jisoo cùng với BLACKPINK đã trở lại với single Square Two gồm 2 bài hát "Playing With Fire" và "Stay" đạt nhiều thành tích và nhiều giải thưởng.

2017: Ra mắt đĩa đơn "As If It's Your Last"[sửa | sửa mã nguồn]

Vào lúc 18:00 (KST) ngày 22 tháng 6 năm 2017, cô cùng Black Pink chính thức tung ra ca khúc "As If It's Your Last" và MV cùng tên. Bài hát đã nhanh chóng trở thành MV đạt được nhiều lượt xem nhất trong vòng 24h đối với nhóm nhạc nữ với hơn 13 triệu views.

2018: Ra mắt Mini Album Square Up cùng Black Pink[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 15 tháng 6 năm 2018, cô trở lại với Black Pink trong mini album "Square Up" với bài hát chủ đề là "Ddu-Ddu Ddu-Ddu" và 3 bài "Forever Young", "Really", "See U Later". Lần comeback này của nhóm đã phá vỡ 1 loạt kỷ lục của K-Pop. Cụ thể là MV nhiều lượt xem nhất trong 24h ở K-Pop và đặc biệt hơn là xếp thứ 2 trên toàn thế giới với 36.5 triệu view chỉ sau 1 ngày phát hành. Đem về cho nhóm 11 chiếc cúp. Lọt top Billboard hot 100 và hàng loạt những giải thưởng khác.

2019: Ra mắt Mini Album Kill This Love cùng với Black Pink[sửa | sửa mã nguồn]

Vào lúc 0h ngày 5 tháng 5 năm 2019, Jisoo cùng Black Pink ra mắt Mini Album thứ 2 - Kill This Love gồm bài chủ đề cùng tên và 4 bài hát "Don't know what to do", "Kick It", "Hope Not" và "DDU-DU DDU-DU Remix"

Chương trình[sửa | sửa mã nguồn]

Chương trình thực tế[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Kênh Tên Thành viên
2018 Youtube BLACKPINK HOUSE Với BLACKPINK
Vlive
JTBC2
Olleh TV

Chương trình giải trí trên sóng truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Kênh Tên Vai trò Ghi Chú
2016 MBC Every 1 Weekly Idol Khách mời Tập 277 (với BLACKPINK)
SBS Running Man Tập 330 (với BLACKPINK)
2017 MBC Radio Star Tập 509 (với Rosé)
SBS Inkigayo MC Với Jinyoung (GOT7) và Doyoung (NCT127)
MBC My Little Television Khách mời Tập 98-99 (với BLACKPINK)
MBC Every 1 Weekly Idol Tập 310 (với BLACKPINK)
MBC King of Masked Singer Bình Luận Viên Tập 121 - Tập 122
JTBC Knowing Bros Khách mời Tập 87 (với BLACKPINK)
tvN Wednesday Food Talk Tập 312
2018 JTBC Idol Room 23 tháng 6
SBS Running Man Tập 409 (với Jennie)
SBS My Ugly Duckling với Jennie, Rosé, Lisa, Seungri (BigBang)
tvN Amazing Saturday với Rosé

Danh sách phim[sửa | sửa mã nguồn]

Phim truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Kênh Tên Vai trò Ghi chú
2015 KBS The Producers Khách mời Tập 4, 5, 12
2017 Netflix Temporary Idol MC Inkigayo

Quảng cáo[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên Ghi chú
2015 SAMSONITE RED Với Lee Minho
Nikon 1 J5
SMART UNIFORM Với iKON
Angel Stone
LG Stylus2
2016 Reebok Korea Với Black Pink
MOONSHOT
Saint Scott[4]
Club C Exclusive[5]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Hui-ling, Chew (28 tháng 9 năm 2016). Teo, Johanna, biên tập. “The Breakout Kids”. Teenage Magazine (Singapore: Key Editions Pte Ltd) (334): 48–49. ISSN 0219-9645. OCLC 224927719. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2016. 
  2. ^ Mi-hyun, Lee (8 tháng 8 năm 2016). “[블랙핑크 데뷔②] 블랙핑크 입덕 준비 끝…괴물 신인 스포일러”. Ilgan Sports (bằng tiếng Hàn). South Korea: JTBC Plus. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2016. 
  3. ^ “[REPLAY] BLACKPINK: DEBUT SHOWCASE”. 13 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2016. 
  4. ^ “Black Pink turn into chic models for designer handbag brand 'Saint Scott'. 
  5. ^ “161105 Club C Exclusive | BLACK PINK x REEBOK CLASSIC”. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]