Kim Sung-kyu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Đây là một tên người Triều Tiên, họ là Kim.
Kim Sung Gyu
Kim Sungkyu.jpg
Thông tin nghệ sĩ
Nghệ danhSungKyu hay SungGyu
Sinh28 tháng 4, 1989 (30 tuổi)
Nguyên quánJeonju, Hàn Quốc
Nghề nghiệpCa sĩ, Nhạc Sĩ, Vũ công, MC
Năm hoạt động2010 – nay
Hãng đĩaWoollim Entertainment
Hợp tác vớiInfinite, Nell, Lovelyz, Epik High, Kanto
Korean name
Hangul
Hanja
Romaja quốc ngữGim Seong-gyu
McCune–ReischauerKim Sŏng-gyu
Hán-ViệtKim Thánh Khuê

Kim Sung-kyu (Tiếng Hàn: ; Tiếng Trung: ; Tiếng Nhật: キム · ソンギュ; Hán Việt: Kim Thánh Khuê); sinh ngày 28 tháng 4 năm 1989) là ca sĩ, nhạc sĩ kiêm diễn viên khách mời, và MC. Anh giữ vai trò trưởng nhóm và hát chính trong nhóm nhạc Hàn Quốc INFINITE thuộc Woollim Entertainment. Anh ra mắt với tư cách là nghệ sĩ solo vào ngày 7 tháng 11 năm 2012 với mini album "Another Me ".

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Kim SungGyu sinh ngày 28 tháng 4 năm 1989 ở Jeonju, Hàn Quốc. Anh đã học tại Jeonju National University High School và nằm trong ban nhạc rock của trường được gọi là " Beat ". Khi SungGyu đầu tiên nói với cha mẹ về ước mơ của mình để trở thành một ca sĩ, họ không hề ủng hộ cho ước mơ đó và nói với anh: "Nếu như con vẫn muốn làm điều đó thì hãy bước ra khỏi nhà ngay". Anh tiếp tục ước mơ trong bí mật và sau khi tốt nghiệp trung học cùng với số tiền tích góp được từ việc làm thêm anh đến Seoul một mình để theo đuổi ước mơ làm ca sĩ. Để bảo đảm cho cuộc sống của anh ấy khi ở thành phố, SungGyu đã phải làm rất nhiều công việc khác nhau như mang vác than ở cửa hàng thịt, phục vụ quán cà phê và làm việc ở một tiệm bánh. Anh chia sẻ, "Em đã rất buồn. Khi em làm việc ở nhà hàng và nhìn thấy một gia đình đã cùng nhau đến ăn một bữa ăn thật ngon trong khi đó em đang ở Seoul này một mình và không có gia đình ở bên, thật sự lúc đó em rất muôn khóc". Năm 2007, anh tham gia thử giọng cho SM Entertainment nhưng không thành công. Do sự ngưỡng mộ của mình dành cho ban nhạc rock Nell, ban đầu anh thử giọng tại Woollim Entertainment dưới sự giới thiệu của quản lý Nell, người mà anh đã gặp tình cờ tại quán cà phê nơi anh làm việc bán thời gian. Trong tình trạng ruột thừa không được tốt, SungGyu đã đến thử giọng và nhẹ nhàng đe dọa họ bằng cách nói rằng: "Công ty các anh sẻ mãi hối hận nếu không chọn tôi". Sau đó anh được đưa đến bệnh viện ngay lập tức và có một cuộc phẫu thuạt ruột thừa. Vào ngày ra viện, anh nhận được thông báo rằng anh đã được thông qua buổi thử giọng. Ban đầu có ý định theo đuổi nhạc rock trong một ban nhạc, nhưng cuối cùng SungGyu trở thành thực tập sinh cho nhóm nhạc "INFINITE", sau này anh đảm nhận vị trí trưởng nhóm và là ca sĩ chính. SungGyu ra mắt với INFINITE vào ngày 9 tháng 6 năm 2010.

Trên 15 tháng 2 năm 2013 SungGyu tốt nghiệp chương trình âm nhạc thực tế của Đại học Daekyung và cùng với các thành viên L, Sungyeol, Hoya và DongWoo được trao bằng khen "Tự hào giải thưởng Daekyung sinh viên đại học" với hy vọng rằng nhóm sẽ tiếp tục phát triển và mang lại uy tín cho nhà trường. Các thành viên nhập học tại đây vào năm 2011.

SungGyu hiện đang là một sinh viên âm nhạc thực tế tại Đại học Hoseo.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

INFINITE[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2010, Sung-kyu chính thức ra mắt với INFINITE bằng single "Come Back Again" với vai trò trưởng nhóm và hát chính.

Năm 2010, anh chơi guitar trong MV "Run" của Epik High.

Tìm hiểu thêm tại INFINITE

Solo[sửa | sửa mã nguồn]

2011-2012[sửa | sửa mã nguồn]

SungGyu cùng với các thành viên Infinite Sungyeol và Sungjong trở thành DJ đặc biệt cho Super Junior's Kiss the Radio sau khi Super Junior Leeteuk và Eunhyuk đã đi. Họ chịu trách nhiệm phát sóng radio từ ngày 24 đến ngày 30.[1]

SungGyu ra mắt như một diễn viên nhạc kịch, cùng với thành viên cùng nhóm Woohyun, trong vở nhạc kịch " Gwanghwamun Sonata".[2] SungGyu đóng vai trò của Ji Yong, con trai của nhân vật nữ chính. Vở nhạc kịch kéo dài từ 3 tháng 1 đến 11 Tháng 3 năm 2012.

Năm 2012, có thông báo rằng SungGyu sẽ tham gia Immortal Song 2 là một thành viên cố định cùng với Super Junior Ryeowook.[3] Tập đầu tiên anh xuất hiện trong chương trình được phát sóng vào ngày 23 tháng 6. Trong tháng 7, anh rời khỏi chương trình do chuyến đi lưu diễn cùng INFINITE.[4] Tập cuối cùng của anh được phát sóng vào ngày 25.

Trên một tập của Weekly Idol, SungGyu và Hoya đã trở thành MC đặc biệt trong một tuần.

SungGyu là thành viên đầu tiên của INFINITE để phát hành một album solo mang tên Another Me. Kim Jongwan của Nell sáng tác single " Shine" và đã được trao cho SungGyu như một món quà. Đĩa đơn đã được phát hành trước ngày 07 Tháng 11. Trong album này, SungGyu đã làm việc với Sweetune để tạo ra lead single rock hiện đại "60 Seconds". Trong việc quay MV, thành viên L trong Infinite đóng vai nhân vật chính. SungGyu cũng trực tiếp tham gia viết lời bài hát cho đĩa đơn " 41 Days" của mình. Mặc dù thời gian quảng bá ngắn trong ba tuần, album đã được đón nhận và trở thành album bán chạy hàng đầu vào tháng mười với 62.958 bản được bán ra. Album xếp hạng #22 cho năm bảng xếp hạng album Gaon Chart của năm 2012.

2013 - 2014[sửa | sửa mã nguồn]

Infinite.svg

Vào tháng 1, SungGyu đã được xác nhận là một thành viên cố định trên JTBC Lee Soo-geun và Kim Byung-man’s cùng với Super Junior Shindong. Tập đầu tiên được phát sóng vào ngày 09 tháng 2 và đạt được gấp đôi tỉ suất người xem (rating) so với tuần trước. Rating vào ngày 16 là 1,6% khi chỉ được 0,7% trong tuần trước. Chương trình phát sóng tập cuối cùng vào ngày 15 tháng 6.

Vào đầu tháng 2, tay trống trong video âm nhạc" 60 Seconds " và " I Need You " của SungGyu tự tử sau khi trải qua một thời gian dài trầm cảm. Anh là một người bạn của SungGyu và Infinite.

SungGyu đã xuất hiện với vai trò cameo trong bộ phim sitcom mới của đài KBS A Bit of Love cùng với bốn thần tượng khác, GO-MBLAQ, Seung Yeon-KARA, Siwan-ZE:A, và SECRET-Ji Eun. Theo đại diện, họ sẽ xuất hiện như các phiên bản trẻ của năm nhân vật chính cho khoảng ba tuần. SungGyu sẽ là phiên bản trẻ của Lee Hoon.

SungGyu đã được xác nhận cho chương trình tvN mới thực tế, The Genius, cùng với 12 con số đại diện khác từ các lĩnh vực công việc khác nhau như nhân vật truyền hình, các chính trị gia, đánh bạc, và nhiều hơn nữa. Tiền đề của chương trình là những người tham gia phải sử dụng sức mạnh bộ não của họ để tìm một công thức chiến thắng và giành chiến thắng trong trò chơi thông qua sự phản bội và loại bỏ các đối thủ cạnh tranh của họ. Người chiến thắng là để nhận được khoảng 100 triệu won (khoảng $ 90,000 USD). Tập đầu tiên mà SungGyu trở thành "Biểu tượng của sự phản bội" đã được phát sóng vào ngày 26 tháng trên kênh tvN. Trong chương trình anh đã được coi là một cầu thủ có khả năng chơi giỏi nhất.

Vào tháng 9, SungGyu và thành viên cùng nhóm L là khách mời trên SBS Running Man của thần tượng đặc biệt với mười hai thần tượng khác từ các nhóm như MBLAQ, Sistar, 2PM, A Pink, Girls Day, và Beast. Ngoài ra, SungGyu cũng được đặc trưng trong KBS2 mới show The Sea I Wanted, kể về câu chuyện của du lịch và kinh nghiệm của sáu người đàn ông trên biển. Chương trình ban đầu lên kế hoạch cho một thí điểm ba tập phim với việc phát sóng tập đầu tiên vào ngày 11.

Trong tháng 10, SungGyu hợp tác cùng rapper Kanto trong sản phẩm "What you want ".

2015[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 29 tháng 1, Sung-kyu tham gia show truyền hình thực tế mới của KBS, Fluttering India, cùng với EXO's Suho, CNBLUE's Jonghyun, Super Junior's Kyuhyun, TVXQ's Changmin, và SHINee's Minho.

Vào tháng 5, Sung-kyu phát hành Album Solo thứ hai mang tên "27". Album được sản xuất bới nghệ sĩ Kim Jong Wan (Nell) - người mà Sung-kyu vô cùng kính trọng. Album đã được phát hành vào ngày 11 tháng 5 năm 2015 với hai ca khúc chủ đề "The Answer" và "Kontrol". Riêng bài hát "The Answer" đã giúp Sung-kyu giành được 2 cup No.1 tại The Show (19 tháng 5) và Music Core (23 tháng 5).

2018

Ngày 26 tháng 2, Sung-kyu phát hành full album solo đầu tay mang tên "10 stories", Album tiếp tục được sản xuất bởi nghệ sĩ Kim Jong Wan (Nell). Ca khúc chủ đề "True love" giúp Sung-Kyu chiến thắng 2 cúp no1 tại The Show (6 tháng 3) và Music Bank (9 tháng 3).

Ngày 29 tháng 3, Sungkyu thông báo tổ chức solo concert đầu tiên mang tên "Shine" từ ngày 5 đến ngày 7 tháng 5 tại Seoul, vé của 3 buổi concert đã sold out trong vòng 3 phút.

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Nhạc phim[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Chương trình Bài hát Nghệ sĩ
2012 MBC What is Mom "She's a Fantasy" với Infinite
2014 Telemonster Monster Time với Infinite
2014 Grow: Infinite's Real Youth Life 함께 (Together) với Infinite

Hợp tác[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Album Bài hát Chú thích
2013 Single What You Want With Kanto
2014 The Duets (Part 1) To Me With Yoon Sang

Solo Songs[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Album Bài hát Lyrics Music Biên soạn Độ dài bài hát
2011 Over the Top "Because" Lee Junghoon Lee Junghoon - 3:52
2012 Another Me "Another Me (Intro)" - Han Boram Han Boram 1:07
"60 Seconds" Song Sooyoon Han Jaeho, Kim Seungsoo, & YUE Yue & Hong Seunghyun 3:34
"I Need You" Lee Junghoon Lee Junghoon Lee Junghoon 3:43
"Only Tears (Acoustic Ver.)" Song Sooyoon Han Jaeho & Kim Seungsoo Han Boram 3:52
"Shine" Kim Jongwan Kim Jongwan Kim Jongwan 4:36
"41 Days" Lee Junghoon & Kim Sung-kyu Lee Junghoon Lee Junghoon 4:11
2014 Season 2 "Light" Kim Sung-kyu J.Yoon - 3:37
2015 27 "27 (Intro)" - Kim Jongwan - 1:33
"The Answer" (너여야만 해) Kim Jongwan, ZOCEY Kim Jongwan, ZOCEY - 3:37
"Alive" Kim Jongwan Kim Jongwan, SPACEBOY - 4:40
"Kontrol" Kim Jongwan Kim Jongwan - 3:41
"Daydream" ft Epik High's Tablo & Nell's Kim Jongwan Kim Jongwan, Tablo Kim Jongwan - 4:13
"Reply" ft Park Yoon-ha Kim Jongwan Kim Jongwan - 4:00
2018 10 stories Told you so Kim Jongwan 3:45
Stay Kim Jongwan 4:28
True love Kim Jongwan 3:39
Attraction Kim Jongwan 4:00
The day erased Kim Jongwan 4:21
Till sunrise Kim Jongwan 3:53
Sorry Kim Jongwan 4:10
City of angels Kim Sung-kyu 3:58
Sentimental Kim Jongwan 4:32
Mirror Kim Jongwan 3:32

Album Solo[sửa | sửa mã nguồn]

Tiêu đề Chi tiết Album Vị trí cao nhất trên BXH Gaon Sales
KOR Billboard world's album 2012 2013 2014 (Ongoing) Tháng 5 - 2015 Tháng 3 - 2018
Another Me
  • Label: Woollim Entertainment
  • Định dạng: CD, digital do
  • Phát hành: 19 tháng 11 năm 2012
1[5] 13,283 [7] 2,679 [8]
27
  • Phát hành: 11 tháng 5 năm 2015
  • Thu âm: 2014–2015
  • Label: Woollim Entertainment
  • Sản xuất: Kim Jong-wan (JW)
1 8 - - - 68,090
10 stories
  • Phát hành: 26 tháng 2 năm 2018
  • Thu âm: 2017–2018
  • Label: Woollim Entertainment
  • Sản xuất: Kim Jong-wan (JW)
1 9 48,156

Sáng tác[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Bài hát Album
2012 41 Days Another Me
2014 Light Season 2
2015 Just Another Lonely Night Japanese Album
2016 Can't get over you Japanese Album 'For You'

Nhạc kịch[sửa | sửa mã nguồn]

2012 "Gwanghamun Love Story" - Sungkyu & WooHyun

2014 "Dracula/Vampire" - Sungkyu (Vai chính)

2015 "In The Height" - Sungkyu (Vai Benny)

2016 "All Shook Up" - Sungkyu (Vai Elvis Presley)

2018 "Amadeus" - Sungkyu (Vai Mozart)

Phim/Show[sửa | sửa mã nguồn]

Drama[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên Thể loại Nhà đài Vai trò
2012 The Thousandth Man Drama MBC Chính anh (Cameo)
2013 Pure Love Drama KBS Lee Hoon (Young)

Film[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên Vai trò
2012 INFINITE Concert Second Invasion Evolution The Movie 3D Chính anh
2014 Grow: Infinite's Real Youth Life" Chính anh

Music Videos[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Bài hát Nghệ sĩ
2010 "Run" Epik High
2013 "What U Want" Kanto
2014 "Goodnight Like Yesterday" Lovelyz

Show truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên Nhà đài Chú thích
2010 Children of the Night MBC Tập 01-Tập 04
You are my oppa Mnet Chương trình thực tế trước khi ra mắt
Scandal Mnet -
2011 Sesame Player Mnet -
Birth of a Family KBS -
2012 Ranking King Mnet -
2011 - 2013 Weekly Idol MBC MC cho Infinite's Jeju Island Special và tập của Tasty
2012 Immortal Song 2 KBS2 Xuất hiện trong 8 tập
2013 Happy Together 3 KBS2 Tập "Weak Men"
Lee Soo Geun and Kim Byung Man’s High Society JTBC Tập 45-47 với Infinite - Tập 62-79 với Shindong
Radio Star MBC Tập "Interesting People"
The Genius: Rules of the Game tvN Chương trình thực tế
Infinity Challenge MBC Cắm trại mùa hè
Running Man SBS Tham gia cùng Infinite's L tập 162
The Sea I Wanted KBS2 Chương trình thí điểm
2014 Running Man SBS tập 179, 180 & 201
This is INFINITE Mnet -
The Genius 2: Rule Breaker tvN Khách mời
Happy Together 3 KBS2 Khách mời
We Got Married global ss2 MBC Khách mời
Crime Scene JTBC Khách mời
The King of Food KBS2 Khách mời
2015 Fluttering India KBS2 Thành viên
After School Club Arirang TV Khách mời, tập 160
Weekly Idol MBC Every1 Khách mời, tập 190
Hello Counselor KBS2 Khách mời
Heart A Tag Mnet Khách mời, tập 6
Please Take Care of My Refrigerator JTBC Khách mời, tập 32 & 33
Radio Star MBC Khách mời
We Got Married MBC Khách mời
Witch Hunt JTBC Khách mời, tập 105
Searching For Sugar Man JTBC Khách mời, tập 2
INFINITE'S SHOWTIME MBC Every1 -
2016 Girls Spirit JTBC MC chính
2016 - 2017 Singderella Channel A MC chính
2017 - 2018 Living Together in Empty Room MBC Thành viên

Musical (Nhạc kịch)[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên Vai diễn
2012 Gwanghamun Sonata Jiyoung (main role)
2014 Vampire (previously known as Dracula but changed due to other musical with the same title) Count Dracula (main role)
2015, 2016- 2017 In the Heights Benny (main role)
2016 All shook up Elvis (main role)
2017- 2018 Gwanghamun Sonata Myungwoo (trẻ)
2018 Amadeus Mozart (main role)

Lồng tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên Vai trò
2011 Wara Store Chính anh

Giải thưởng và đề cử

Năm Giải thưởng Hạng mục
2015 7th MelOn Music Awards Top 10 Artists Đề cử
Best Rock Song Đoạt giải
The 7th Philippines KPOP Awards Best Solo Male Artist Đoạt giải
Best Collaboration of the Year Đoạt giải
KPOP Meeting Germany Awards Best Male Artist Đoạt giải
International K-Music Awards Best Male Solo Đoạt giải

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ (tiếng Hàn)“인피니트, 뉴욕간 슈주 대신해 ‘키스더라디오’ 임시 DJ”. Newsen. Ngày 24 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2013. 
  2. ^ (tiếng Hàn)“인피니트 성규 우현+서인국, '광화문연가'로 뮤지컬 배우 데뷔”. Nate. Ngày 27 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2013. 
  3. ^ (tiếng Hàn)“슈주 려욱vs인피니트 김성규 ‘불후’ 고정합류, 아이돌 대결 활활”. Nate. Ngày 28 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2013. 
  4. ^ (tiếng Hàn)“인피니트 성규 ‘불후2’ 하차 해외스케줄-콘서트 연습 주력”. Newsen. Ngày 17 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2013. 
  5. ^ http://www.gaonchart.co.kr/main/section/total/list.gaon
  6. ^ “Gaon Chart releases Yearly Chart Ranking for 2012”. Allkpop. Ngày 21 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2013. 
  7. ^ “Gaon Chart for 2013”. GAON. Ngày 31 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2014. 
  8. ^ “Gaon Chart for April 2014”. GAON. Ngày 30 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2014.