Kinh Đại Bát Niết Bàn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Kinh điển Phật giáo
Tam.jpg

Kinh

Luận


Kinh Ðại Bát Niết Bàn là bộ kinh do Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết trước khi ông qua đời. Tại Việt Nam, có hai bản Kinh Niết Bàn của Phật giáo Nam TôngPhật giáo Bắc Tông. Kinh Ðại Bát Niết bàn của Nam Tông, được tìm thấy trong Kinh Trường Bộ, [Kinh Ðại Bát Niết Bàn, (Hệ Pali), Việt dịch: Hòa thượng Thích Minh Châu, Viện Nghiên cứu Phật Học Việt Nam ấn hành năm 1991]. Còn Kinh Ðại Bát Niết Bàn của Phật giáo Bắc Tông bao gồm hai bản: (1) Phật Thuyết Phương Ðẳng Bát Nê Hoàn Kinh, do ngài Dharmaaksa(Đàm Vô Sấm)(265-316), đời Tây Tấn dịch và (2) Ðại Bát Nê Hoàn Kinh, do ngài Pháp Hiển và Buddhabadhra đời Ðông Tấn (317-420) dịch.[1]. Bản Việt ngữ của Phật giáo Bắc Tông do Hòa thượng Thích Trí Tịnh dịch từ bản Hán văn, tịnh xá Minh Ðăng Quang, Hoa Kỳ tái xuất bản năm 1990, dày 1500 trang gồm tất cả 29 phẩm (chương), được phân ra làm hai quyển, quyển 1 từ phẩm 1 đến phẩm thứ 21 và quyển hai từ phẩm 22 đến phẩm 29.:

Nội dung[sửa | sửa mã nguồn]

Kinh Ðại Bát Niết Bàn, vì là lời nói sau cùng của Phật Tổ, trước khi ông viên tịch, nên bao quát hầu như đủ mọi thắc mắc của chúng sinh. Vì thời gian có hạn nên lời ngài dạy rất cô đọng, nhưng minh bạch, rõ ràng. Thí dụ như nơi phẩm Kim Cang Thân thứ năm và phẩm Như Lai Tánh thứ mười hai, ngài giải thích cặn kẽ về chân ngã hay Phật Tánh, đó chính là bản thể thanh tịnh thường hằng bất biến của tất cả mọi loài chúng sinh, mênh mông như hư không, thường trụ bất hoại, tuy vậy bản thể ấy không phải tất cả chúng sinh là một, nhưng cũng không phải là khác, vượt ra khỏi tư tưởng suy nghĩ thông thường của đời sống tương đối hiện tượng, cho nên gọi là bất khả tư nghị, tức không thể nghĩ bàn, nhưng chính là cái chân thật của mọi chúng sinh, không phải là cái "Tôi" ô nhễm tham sân si, đầy vướng mắc khổ vui vô thường này. Bản thể ấy tràn ngập khắp nơi nhưng chúng sinh bị trói buộc vì phiền não, tham sân si nhiễm ô che mờ nên không thấy được. Bản thể ấy luôn luôn sẵn sàng, tịch tĩnh hiện diện, nên gọi là Như Lai.

Hình thức[sửa | sửa mã nguồn]

Bản dịch của hòa thượng Thích Trí Tịnh gồm 29 phẩm như sau:

01. Phẩm Tự

02. Phẩm Thuần Đà

03. Phẩm Ai Thán

04. Phẩm Trường Thọ

05. Phẩm Kim Cang Thân

06. Phẩm Danh Tự Công Đức

07. Phẩm Tứ Tướng

08. Phẩm Tứ Y

09. Phẩm Tà Chánh

10. Phẩm Tứ Đế

11. Phẩm Tứ Đảo

12. Phẩm Như Lai Tánh

13. Phẩm Văn Tự

14. Phẩm Điếu Dụ

15. Phẩm Nguyệt Dụ

16. Phẩm Bồ Tát

17. Phẩm Đại Chúng Vấn

18. Phẩm Hiện Bịnh

19. Phẩm Thánh Hạnh

20. Phẩm Phạm Hạnh

21. Phẩm Anh Nhị Hạnh

22. Phẩm Quang Minh Biến Chiếu Cao Quý Đức Vương Bồ Tát

23. Phẩm Sư Tử Hống Bồ Tát

24. Phẩm Ca Diếp Bồ Tát

25. Phẩm Kiều Trần Như

26. Phẩm Di Giáo

27. Phẩm Ứng Tận Hường Nguyên

28. Phẩm Trà Tỳ

29. Phẩm Cúng Dường Xá Lợi

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Sách Kinh Đại Bát Niết-bàn phần Lời nói đầu trong KINH ĐIỂN - Xem và tải miễn phí”. Cộng đồng Rộng Mở Tâm Hồn. Truy cập 10 tháng 10 năm 2015.