Kinh Dương Vương

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Kinh Dương vương
Vua (chi tiết...)
Khong hinh tu do.svg
Hùng Vương
Trị vì 2879 TCN (?)[1] - ?
Kế nhiệm Lạc Long Quân
Thông tin chung
Thê thiếp Thần Long Nữ
Hậu duệ Sùng Lãm
Tên thật Lộc Tục
Thời kỳ Hùng Vương
Thân phụ Đế Minh
An táng Đại Đồng Thành

Kinh Dương vương là một nhân vật truyền thuyết, ông nội Hùng Vương thứ nhất, thuộc dòng dõi Vua Thần Nông vốn được suy tôn làm thủy tổ của người Bách Việt. Dã sử chép Kinh Dương vương tên húy là Lộc Tục, là người hình thành nhà nước sơ khai đầu tiên vào năm Nhâm Tuất (~2879 Tr.CN), đặt quốc hiệu là Xích Quỷ, đóng đô ở Hồng Lĩnh (nay là Ngàn Hống, huyện Can Lộc, Hà Tĩnh), sau đó dời đô ra Ao Việt (Việt Trì). Kinh Dương vương truyền ngôi cho con là Lạc Long Quân.

Kinh Dương vương có thể là danh hiệu đời sau truy tặng cho một tù trưởng bộ lạc đã góp công vào việc thống nhất tộc người Lạc Việt, có thể là tù trưởng bộ lạc Văn Lang trước Hùng Vương. Sự nghiệp của ông được tiếp nối bởi Lạc Long QuânHùng Vương đời thứ nhất. Niên đại của Kinh Dương vương là trước thế kỷ VII TCN bởi theo các bằng chứng khảo cổ học thì nhà nước đầu tiên Văn Lang được thành lập vào thế kỷ VII TCN.[2][3]

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, một quyển sách theo quan điểm Nho giáo thì Kinh Dương vương có nguồn gốc từ phương Bắc: Nguyên Đế Minh là cháu bốn đời của vua Thần Nông, đi tuần thú phương Nam đến núi Ngũ Lĩnh (Hồ Nam, Trung Quốc) đóng lại đó rồi cưới Vụ tiên nữ (鶩僊女)[4], sau đó sinh được một người con trai tư chất thông minh đặt tên Lộc Tục (祿續).

Sau Đế Minh truyền ngôi cho con trưởng là Đế Nghi, làm vua phương Bắc và phong cho Lộc Tục làm vua phương Nam xưng là Kinh Dương vương (chữ Hán: 涇陽王). Theo Đại Việt Sử ký toàn thư thì Kinh Dương vương làm vua và cai trị từ khoảng năm 2879 TCN trở đi[1]. Địa bàn của quốc gia dưới thời vua Kinh Dương rộng lớn, phía bắc tới sông Dương Tử (cả vùng hồ Động Đình), phía nam tới nước Hồ Tôn (Chiêm Thành), phía đông là Đông Hải (một phần của Thái Bình Dương), phía tây là Ba Thục (Tứ Xuyên, Trung Quốc ngày nay). Lĩnh Nam chích quái ghi lại truyền thuyết vua đánh đuổi thần Xương Cuồng dũng mãnh, trừ hại cho dân.

Ông lấy con gái vua hồ Động Đình tên là Thần Long[a], sinh được một con trai đặt tên là Sùng Lãm, nối ngôi làm vua xưng là Lạc Long Quân.

Theo truyền thuyết thì Kinh Dương Vương vốn là một con rắn có bốn chân và một cặp sừng trên đầu. Trong một lần Mẫu Thoải du ngoạn biển Đông đã thu phục và biến ông thành thú cưỡi đặt tên là Thần Long. Sau này Thần Long lập được nhiều công lớn, được đích thân Ngọc Hoàng cho hóa thành hình người, phong làm vua Lĩnh Nam. Từ đây ông mới lấy tên hiệu là Kinh Dương Vương, đặt tên nước là Xích Quỷ, đóng đô ở Hồng Lĩnh. Kinh Dương Vương lấy Thoải Mẫu làm vợ sinh ra một người con trai tên là Sùng lãm, sau lấy tên là Lạc Long Quân và một người con gái Ngọc Long Nương. Sau khi truyền ngôi cho con trai thì ông cùng vợ mình trở về thủy phủ cai quản một vùng biển Đông rộng lớn lấy tên mới là Long Vương.

Ngày nay, người trang Phúc Khang, bộ Vũ Ninh (Bắc Ninh ngày nay) hay tổ chức Lễ hội tưởng nhớ Kinh Dương vương vào ngày 18/1 âm lịch hằng năm.

Lăng và Đền thờ[sửa | sửa mã nguồn]

Việc thờ cúng Kinh Dương Vương ở Việt Nam không phổ biến bằng tín ngưỡng thờ cúng Thần Nông, vị thần là cụ thủy tổ của Hùng Vương đồng thời là vị thần rất được sùng bái trong tín ngưỡng nông nghiệp ở Việt Nam; được các triều đại phong kiến lập Đàn Xã Tắc để tế lễ hàng năm.

Lăng và Đền thờ Kinh Dương vương ở Bắc Ninh từ lâu đã được các triều đại Phong kiến Việt Nam xếp vào loại miếu thờ các bậc Đế vương, mỗi lần Quốc lễ đều cho quân đến tế lễ, dân thờ phụng trang trọng. Năm 2013, tỉnh Bắc Ninh công bố quy hoạch bảo tồn tôn tạo và phát huy giá trị quần thể di tích lịch sử văn hoá quốc gia lăng và đền thờ Kinh Dương vương với tổng mức đầu tư khoảng hơn 491 tỷ đồng[5]. Dự án chia làm 4 hạng mục xây dựng chính gồm: Không gian bảo tồn di tích, tập trung tu bổ, tôn tạo di tích Lăng và Đền thờ Kinh Dương vương sân đền, vườn khu lăng mộ; không gian giá trị di tích gồm: Tượng đài thuỷ tổ, quảng trường văn hoá lễ hội, nhà trưng bày văn hoá...đi kèm các dịch vụ phụ trợ để phát triển du lịch văn hoá tâm linh, thu hút du khách và hạ tầng kỹ thuật, san nền, đường giao thông, đường điện[6].

Đường Kinh Dương vương[sửa | sửa mã nguồn]

Tên Kinh Dương vương được đặt cho một số con đường tại Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Bắc Ninh, Thị xã Hồng Lĩnh và Huyện Thuận Thành.

Tại Bắc Ninh, đường Kinh Dương vương nối từ đường Ngô Gia Tự chạy ngang qua Trung tâm văn hóa Kinh Bắc và kết thúc tại đường Đấu Mã. Còn đường Kinh Dương vương thứ 2 là quốc lộ 38 từ Cầu Hồ tới ngã tư Đông Côi huyện Thuận Thành.

Nhận xét[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Khâm định Việt sử thông giám cương mục:

Chuẩn tấu những lời của sử quan, vua Tự Đức đã nhận định đây là những "câu truyện đề cập đến ma trâu, thần rắn, hoang đường không có chuẩn tắc" và cương quyết loại Kinh Dương và Lạc Long ra khỏi chính sử bằng cách đưa xuống phụ chú dưới niên kỷ Hùng vương, để "cho hợp với cái nghĩa lấy nghi truyền nghi". Tác giả  Liam Christopher Kelley nhận xét:

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Kỷ Hồng Bàng thị
  2. ^ Trần Quốc Vượng (chủ biên), Tô Ngọc Thanh, Nguyễn Chí Bền, Lâm Thị Mỹ Dung, Trần Túy Anh, Cơ sở Văn hóa Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2011. Trang 125.
  3. ^ Trương Hữu Quýnh (chủ biên), Phan Đại Doãn, Nguyễn Cảnh Minh, Đại cương Lịch sử Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2008. Trang 47.
  4. ^ Ứng với một chòm sao trong khoa thiên văn, theo khảo cứu của nhà ngôn ngữ học Trần Như Vĩnh Lạc.
  5. ^ Khởi công tu bổ, tôn tạo di tích Lăng và Đền thờ Kinh Dương Vương Từ Lương, 11:13, 25/02/2013
  6. ^ Gần 500 tỷ bảo tồn, tôn tạo lăng và đền thờ Kinh Dương Vương Đoàn Thế Cường, báo Dân Trí 09/10/2012 - 07:02
  7. ^ The Biography of the Hồng Bàng Clan as a Medieval Vietnamese Invented Tradition. Journal of Vietnamese Studies Vol. 7, No. 2 (Summer 2012), p. 122.
  1. ^ Nhưng theo Ngô Sĩ Liên viết ở mục Lạc Long Quân tại trang 2 thì Con cháu Thần Nông thị là Đế Minh lấy Vụ tiên nữ mà sinh Kinh Dương vương, tức là thủy tổ của Bách Việt. Vương lấy con gái Thần Long sinh ra Lạc Long Quân, nghĩa là Động Đình quân tên là Thần Long chứ không phải con gái của ông này tên là Thần Long.