Bước tới nội dung

Kinh Sa-môn Quả

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Kinh Sa-môn Quả
Thông tin
Tôn giáoPhật giáo
Tác giảtheo truyền thống: Phật
Ngôn ngữ
  • tiếng Pali: Pali
  • Hán văn đối ứng
Sutras

Kinh Sa-môn Quả (Sanskrit: tiếng Phạn: Śramaṇaphala Sūtra; Pali: tiếng Pali: Sāmaññaphala Sutta) là một kinh thuộc Trường Bộ của Kinh tạng Pali, được đánh số DN 2, trình bày lời đáp của Phật về "quả" của đời sống sa-môn qua cuộc đối thoại với vua A-xà-thế tại vườn Xoài của y sĩ Jīvaka gần Vương Xá (tiếng Phạn: Rājagṛha; tiếng Pali: Rājagaha).[1][2] Kinh có các bản đối ứng Hán văn ở A-hàm và còn xuất hiện trong Luật Tạng của Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ, phản ánh truyền thừa rộng ngoài Theravāda.[3]

Tiểu sử tóm tắt

[sửa | sửa mã nguồn]

Theo bản Pali, bối cảnh là vườn Xoài của Jīvaka gần Vương Xá, nơi vua A-xà-thế đến yết kiến và nêu câu hỏi về lợi ích thấy được của đời sống xuất gia.[1] Trước đó ông từng thỉnh giáo sáu đạo sư đương thời nhưng không thỏa mãn với các câu trả lời, nên tìm đến Phật để hỏi lại cùng một vấn đề.[1] Sau khi nghe pháp, nhà vua sám hối tội sát phụ và quy y; Phật dạy rằng ác nghiệp ấy ngăn ông chứng đắc sơ quả ngay trong đêm ấy, dù ông đắc tín và trở thành cận sự nam.[4][1]

Vai trò & đặc trưng

[sửa | sửa mã nguồn]

Kinh được xem là trình bày quy phạm về "lộ trình tuần tự" của người tu: trì giới, hộ trì căn, chánh niệm tỉnh giác, thiểu dục tri túc, nhập bốn Thiền-na, thành tựu các Thần thông và đoạn tận lậu hoặc.[1] Danh mục "quả hiện tại" gồm sự kính trọng của xã hội, an ổn không sợ hãi, hỷ lạc nội tâm do thiền định; tiếp đến là các "thắng trí" như thần túc, thiên nhĩ, biết tâm người khác, túc mạng minh, thiên nhãn, và lậu tận trí.[1][4] Phần đối chiếu với các học phái ngoài Phật giáo cho thấy bối cảnh Ấn Độ cổ đại, nơi các thuyết vô nhân, tất định, đoạn diệt, nguyên tử, khổ hạnh nghiêm và hoài nghi đang lưu hành, làm nền cho giáo lý về nghiệp và duyên khởi của Phật giáo.[3]

Trong kinh văn

[sửa | sửa mã nguồn]

Kinh nêu lại sáu đạo sư mà nhà vua từng hỏi: Pūraṇa Kassapa, Makkhali Gosāla, Ajita Kesakambalī, Pakudha Kaccāyana, Nigaṇṭha Nātaputta và Sañjaya Belaṭṭhiputta, rồi ghi nhận lời đáp của Phật về các "quả" của đời sống xuất gia theo trình tự tu học.[1][2] Các bản đối ứng được ghi ở Trường A-hàm số 27 và Tăng nhất A-hàm quyển 43, phẩm 7; một dị bản nữa nằm trong Luật Mūlasarvāstivāda, gắn với câu chuyện Đề-bà-đạt-đa và vua A-xà-thế.[3] Văn bản Pali được ấn hành ở Dīgha Nikāya I, từ trang D I 47 đến D I 86 trong ấn bản Pali Text Society.[2]

Chú thích

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ a b c d e f g Walshe, Maurice (1995). The Long Discourses of the Buddha: A Translation of the Dīgha Nikāya. Wisdom Publications. ISBN 978-0-86171-103-1.
  2. ^ a b c Rhys Davids, T. W.; Carpenter, J. E. (1995). Dīgha-nikāya: Vol I. Pali Text Society. tr. D I 47-86. ISBN 978-0-86013-096-3.
  3. ^ a b c Anālayo, Bhikkhu (2006). "Sāmaññaphala Sutta". Encyclopaedia of Buddhism. Quyển VII. tr. 665–667.
  4. ^ a b Bodhi, Bhikkhu (1998). The Discourse on the Fruits of Recluseship: Sāmaññaphala Sutta and Its Commentaries. Buddhist Publication Society. ISBN 978-955-240-045-2.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]
  • Kinh Sa- Môn Quả, Trung tâm biên, phiên dịch tài liệu Phật giáo Quốc tế, Ban Phật giáo Quốc tế, Giáo hội Phật giáo Việt Nam