Kinh tế

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Kinh tế (nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp οίκος – "hộ gia đình" và νέμoμαι – "quản lý") là tổng hòa các mối quan hệ tương tác lẫn nhau của con người và xã hội - liên quan trực tiếp đến việc sản xuất, trao đổi, phân phối, tiêu dùng các loại sản phẩm hàng hóa và dịch vụ, nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của con người trong một xã hội với một nguồn lực khan hiếm. Nói cách khác kinh tế học nghiên cứu cách con người quản lý các nguồn lực khan hiếm của nó[1]. Các nhân tố cơ bản trong hoạt động sản xuất của con người bao gồm lực lượng sản xuất, phương thức sản xuất và quan hệ sản xuất.

Khái niệm[sửa | sửa mã nguồn]

Kinh tế là tổng thể các yếu tố sản xuất, các điều kiện sống của con người, các mối quan hệ trong quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội. Nói đến kinh tế suy cho cùng là nói đến vấn đề sở hữu và lợi ích. Từ này chỉ "toàn bộ các hoạt động sản xuất, trao đổi, phân phối, lưu thông" của cả một cộng đồng dân cư, một quốc gia.

Kinh tế là khái niệm bắt nguồn từ phương Tây. Khái niệm này khi được dịch sang tiếng Nhật thì người Nhật đã chọn cụm từ "kinh bang tế thế" để diễn ý. Nguyên nghĩa của cụm từ này là các công việc mà một vị vua phải đảm nhiệm: chăm lo đời sống vật chất của bề tôi, chăm lo đời sống tinh thần của cộng đồng. Kinh tế là hình thức rút gọn của cụm từ Kinh bang Tế thế, kinh bang có nghĩa là trị nước và tế thế có nghĩa là cứu đời. Người Nhật hiểu rằng hoạt động kinh tế là để đem lại lợi ích cho xã hội chứ không phải chỉ mưu cầu lợi ích cá nhân.

Kinh tế là sự trao đổi giữa bên cung và bên cầu một cách hợp lý, hợp pháp nhất. Để sự trao đổi giữa bên cung và bên cầu được dễ dàng thuận lợi, xã hội tạo ra một dạng hàng hóa đặc biệt dùng để đo lường được gọi là tiền tệ.

Khái niệm kinh tế đề cập đến các hoạt động của con người có liên quan đến sản xuất, phân phối, trao đổi, và tiêu thụ hàng hóadịch vụ. Tuy nhiên, định nghĩa về kinh tế đã thay đổi theo lịch sử các hoạt động kinh tế. Ngày nay người ta hiểu kinh tế là hoạt động sản xuất, trao đổi và phân phối dựa vào các nguồn tài nguyên khan hiếm. Trong đó, con người và xã hội loài người tìm cách trả lời các câu hỏi "Sản xuất cái gì? Sản xuất cho ai? Sản xuất như thế nào? Lưu thông, Phân phối như thế nào?". Việc sử dụng các nguồn tài nguyên không khan hiếm không làm nảy sinh các vấn đề kinh tế.

Mối quan hệ với chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Kinh tế và chính trị là hai mặt của một đồng xu. Không thể tách rời kinh tế khỏi chính trị và ngược lại không thể tách rời chính trị khỏi kinh tế.

Kinh tế tác động đến chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

  • Kinh tế là nói đến yếu tố vật chất của xã hội còn chính trị là nói đến yếu tố tinh thần, tư tưởng của xã hội mà vật chất quyết định ý thức, nghĩa là kinh giữ vai trò quyết định đối với chính trị.
  • Kinh tế là cơ sở của sự xuất hiện giai cấp và đối kháng giai cấp, là điều kiện cho sự ra đời các đảng chính trị trong đấu tranh giai cấp, quyết định sự xuất hiện và biến đổi cơ cấu giai cấp, kinh tế cũng là nguồn gốc cho sự xuất hiện Nhà nước.
  • Quyết định bản chất của chế độ chính trị. Giai cấp nào thống trị kinh tế, thì tất yếu sẽ nắm giữ quyền lực chính trị.
  • Quyết định nội dung, phương thức và phương hướng hoạt động của hệ thống chính trị.
  • Kinh tế, nhất là cơ sở hạ tầng biến đổi, sớm hay muộn sẽ dẫn tới biến đổi tư tưởng chính trị và thể chế chính trị.
  • Kinh tế là mục đích, chính trị là phương tiện. Kinh tế là thước đo tính ưu việt của chính trị.
  • Những mâu thuẫn trong lĩnh vực kinh tế quyết định tất cả những mâu thuẫn trong đời sống chính trị và tinh thần xã hội.

Chính trị tác động đến kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chính trị được thể chế hóa thành cơ quan quyền lực nhà nước, thành bộ máy nhà nước nên nó cũng có được sức mạnh vật chất, sức mạnh kinh tế, do đó có thể tác động trở lại kinh tế.
  • Chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế, là sự phản ánh nền kinh tế nhưng không phải phản ánh giản đơn mà phản ánh được bản chất của nền kinh tế, phản ánh khái quát các quy luật vận động của nền kinh tế xã hội nên có khả năng vượt trước, định hướng được cho sự phát triển kinh tế, chuẩn bị những tiền đề cần thiết về vật chất và tư tưởng cho sự ra đời của chế độ kinh tế mới.
  • Chính trị có thể thay đổi trật tư kinh tế cũ, thiết lập trật tự kinh tế mới trong một số điều kiện nhất định.
  • Chính trị có thể tác động trở lại kinh tế theo xu hướng cùng chiều quy luật kinh tế sẽ thúc đẩy kinh tế phát triển; và ngược chiều sẽ kìm hãm kinh tế phát triển.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Principles of Economics (6th edition), N. Gregory Mankiw, Cengage Learning, 2012, page 4