Kinh tế thời nhà Hán

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Một cái cốc gán ngọc thạch và đồng thời Tây Hán (202 BC – 9 AD), Bảo tàng Sackler
Một cái móc đai bằng vàng thời Đông Hán (25–220 AD), trang trí bởi các họa tiết về những loài vật linh thiêng

Nhà Hán (206 TCN - 220 SCN) của Trung Hoa cổ đại đã trải qua các thời kỳ thịnh vượng và suy thoái kinh tế. Nó thường được chia thành ba thời kỳ chính: Tây Hán (206 TCN - 9 SCN), nhà Tân (9 - 23 SCN) và Đông Hán (25 - 220 SCN). Nhà Tân, sáng lập bởi cựu quyền thần tên Vương Mãng, gây một chút gián đoạn cho giai đoạn nhà Hán trong lịch sử Trung Quốc. Sau sự sụp đổ của Tân, nhà Hán dời đô từ Trường An về Lạc Dương. Do đó, các nhà sử học sau này đã đặt tên cho các thời đại tiếp theo là Tây Hán và Đông Hán.[1]

Nền kinh tế thời Hán được hình thành bởi sự tăng trưởng dân số đáng kể, đô thị hóa gia tăng, tăng trưởng chưa có tiền lệ của nền công nghiệp và thương mại, và các thử nghiệm của triều đình về quốc hữu hóa. Trong thời kỳ này, mức độ đúc và lưu thông tiền tệ tăng trưởng đáng kể, tạo thành nền tảng của một hệ thống kinh tế ổn định. Con đường tơ lụa tạo điều kiện cho việc thiết lập trao đổi thương mại và cống nạp với các nước ngoại bang trên khắp đại lục địa Á Âu. Thủ đô của cả Tây Hán (Trường An) và Đông Hán (Lạc Dương) thuộc trong số những đô thị lớn nhất trên thế giới vào thời bấy giờ, cả về dân số và diện tích. Tại đây, các xưởng thủ công của nhà nước sản xuất đồ nội thất cho cung điện của hoàng đế và cả hàng hóa cho dân thường. Nhà nước giám sát việc xây dựng đường và cầu, tạo điều kiện cho kinh doanh chính thức và khuyến khích tăng trưởng thương mại. Dưới sự cai trị của nhà Hán, các nhà thủ công, nhà bán buôn và thương nhân có thể tham gia vào một loạt các doanh nghiệp và buôn bán trong nhiều lĩnh vực, công cộng và thậm chí là quân sự.

Vào thời kỳ đầu, nông dân phần lớn tự duy trì, nhưng họ bắt đầu phụ thuộc nhiều hơn vào trao đổi thương mại với những địa chủ giàu có của những khu nông nghiệp lớn. Nhiều nông dân sau đó rơi vào nợ nần và bị buộc phải làm thuê hoặc làm tá điền trả thuế cho người sở hữu đất. Nhà Hán liên tục cố gắng cung cấp trợ cấp kinh tế cho nông dân nghèo, những người phải cạnh tranh với các quý tộc, địa chủ và thương nhân hùng mạnh và có ảnh hưởng. Nhà nước đã cố gắng hạn chế quyền lực của tầng lớp giàu có này thông qua việc đánh thuế nặng nề và quy định quan liêu. Thời Hán Vũ Đế (141 - 87 TCN) thậm chí quốc hữu hóa các ngành công nghiệp sắt và muối; tuy nhiên, các độc quyền này bị bãi bỏ thời Đông Hán. Sự can thiệp ngày càng tăng của chính phủ vào nền kinh tế tư nhân cuối thế kỷ 2 TCN đã làm suy yếu nghiêm trọng tầng lớp thương gia. Điều này cho phép các chủ sở hữu giàu có củng cố quyền lực và đảm bảo sự tiếp tục của một nền kinh tế thống trị nông nghiệp. Các địa chủ thống trị các hoạt động thương mại, duy trì sự kiểm soát đối với nông dân - tầng lớp mà chính phủ dựa vào bởi các khoản thuế, nhân lực quân sự và lao động công cộng. Vào những năm 180 SCN, các cuộc khủng hoảng kinh tế và chính trị đã khiến nhà Hán trở nên phi tập trung hóa mạnh mẽ, trong khi các địa chủ lớn ngày càng độc lập và quyền lực trong vùng của họ.

Hệ thống tiền tệ và đô thị hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Đô thị hóa và dân số[sửa | sửa mã nguồn]

Một mô hình nhà tháp thời Hán được sơn làm từ gốm (tìm thấy trong một ngôi mộ thời Hán) có mái hiên, mái nhà nghiêng, đấu củng, và một cây cầu che bắc từ tầng hai sang tòa nhà bên cạnh

Thời Chiến Quốc (403–221 TCN), sự phát triển của thương nghiệp tư nhân, các tuyến thương mại mới, các ngành thủ công mỹ nghệ và nền kinh tế tiền bạc khiến các trung tâm đô thị mới mọc lên. Những nơi này khác biệt hẳn với các đô thị cũ, đơn thuần là cơ sở quyền lực cho giới quý tộc.[2] Việc chuẩn hóa đồng tiền quốc gia dưới thời Tần (221, 206 TCN) đã tạo điều kiện cho giao dịch đường dài giữa các thành phố.[3] Nhiều đô thi mở rộng: thủ đô Tây Hán, Tràng An, có khoảng 250.000 cư dân, trong khi thủ đô Đông Hán, Lạc Dương, có khoảng 500.000 cư dân.[4] Dân số của toàn Đế quốc Hán, được ghi nhận trong cuộc điều tra dân số năm 2 SCN, là 57,6 triệu người thuộc 12.366.470 hộ gia đình.[5] Phần lớn dân thường tại thành thị sống ở các khu vực ngoại thành và ngoại ô xung quanh các bức tường thành.[6] Tổng diện tích của Tràng An bao gồm các khu mở rộng bên ngoài các bức tường là 36 km2 (14 dặm vuông). Tổng diện tích của Lạc Dương, bao gồm các khu mở rộng bên ngoài các bức tường là 24,5 km2 (9,5 dặm vuông).[7] Cả Tràng An và Lạc Dương đều có hai khu chợ nổi bật; mỗi chợ có một văn phòng triều đình hai tầng được phân định bởi một lá cờ và trống ở trên đỉnh.[8] Các quan chức thị trường chịu trách nhiệm duy trì trật tự, thu thuế thương mại, thiết lập giá hàng hóa tiêu chuẩn hàng tháng và ủy quyền hợp đồng giữa thương nhân và khách hàng.[8]

Tiền tệ[sửa | sửa mã nguồn]

Thời Tây Hán, Hán Cao Tổ (202–195 BC) đóng cửa các xưởng đúc tiền nhà nước mà dùng tiền xu đúc bởi các xưởng tư nhân.[9] Vợ của Cao Tổ, Lã hậu bãi bỏ việc đúc tiền tư nhân vào năm 186 TCN. Bà ban đầu phát hành tiền xu do nhà nước đúc có cân nặng 5,7 g (0,20 oz), nhưng sau này giảm xuống còn nặng 1,5 g (0,053 oz), vào năm 182 TCN. Sự thay đổi này gây nạn lạm phát, vì vậy vào năm 175 TCN, Hán Văn Đế (Han 180 180.157 trước Công nguyên) đã dỡ bỏ lệnh cấm đúc tiền tư nhân; cho phép họ đúc tiền với khối lượng chính xác 2,6 g (0,092 oz).[9] Việc đúc tiền tư một lần nữa bị bãi bỏ vào năm 144 TCN vào cuối đời Hán Cảnh Đế (Han. 15714141 trước Công nguyên). Dù vậy, đồng xu 2,6 g (0,092 oz) đã được phát hành bởi chính quyền trung ương và địa phương cho đến năm 120 TCN, khi trong một năm, nó bị thay thế bằng xu nặng 1,9 g (0,067 oz).[10] Các loại tiền tệ khác đã được giới thiệu trong khoảng thời gian này. Tiền làm từ da nai trắng có thêu, có mệnh giá 400.000 xu, được sử dụng trong việc thu thuế của chính quyền.[10] Hán Vũ Đế cũng giới thiệu ba đồng xu hợp kim thiếc-bạc trị giá lần lượt 3.000, 500 và 300 xu đồng; tất cả đều nặng dưới 120 g (4.2 oz).[10]

Một đồng ngũ thù (五銖) lưu hành dưới thời Hán Vũ Đế (141–87 BC), đường kính 25,5 mm (1 in)[Chuyển đổi: Số không hợp lệ]

Vào năm 119 TCN, triều đình phát hành đồng ngũ thù (五銖) nặng 3,2 g (0,11 oz); đồng xu vẫn là tiền tệ tiêu chuẩn ở Trung Quốc cho đến thời nhà Đường (618–907 SCN).[11] Dưới thời nhà Tân (9–23 SCN) của Vương Mãng (45 TCN – 23 SCN), chính phủ đưa ra một số mệnh giá mới vào những năm 7, 9, 10 và 14 SCN. Các đơn vị mới này (bao gồm tiền dao bằng đồng, vàng, bạc, và các loại làm từ mai rùa, vỏ ốc) thường có giá thị trường không tương xứng với trọng lượng của chúng và làm mất giá trị đồng tiền.[12] Tiếp sau sự sụp đổ của nhà Tân, Mã Viện xúi giục Hán Quang Vũ Đế giới thiệu lại đồng ngũ thù.[12] Vì đồng tiền do các quận phát hành thường có chất lượng kém và khối lượng nhẹ, chính quyền trung ương đã đóng cửa tất cả các xưởng đúc cấp quận vào năm 113 TCN và ủy thác cho Thủy Hành Đô Úy độc quyền đúc tiền.[13] Mặc dù vấn đề tiền đúc của chính phủ trung ương đã được chuyển cho Đại Ty Nông (một trong những Cửu khanh của chính phủ trung ương) vào thời kỳ đầu Đông Hán, sự đúc tiền độc quyền vẫn tồn tại.[14]

Đĩa vàng nhà Tây Hán (202 TCN - 9 SCN), Bảo tàng Lịch sử Thiểm Tây; khai quật từ làng Dongshilipu, Tanjia town, Vị Ương, thành phố Tây An, Thiểm Tây; bao gồm 219 đĩa, mỗi cái nặng 227.6-254.4g. Hầu hết chúng đều có chữ và hoa văn. Chúng không được lưu hành như tiền trao đổi, mà chủ yếu được dùng để tặng thưởng.

Lưu thông và tiền lương[sửa | sửa mã nguồn]

Thương nhân và nông dân phải trả thuế tài sản và khoán bằng tiền xu và thuế đất bằng một phần mùa vụ của họ.[16] Nông dân nhận lương bằng cách đi cày thuê cho địa chủ, ủ bia thuê hoặc bán nông sản và đồ gốm tự chế ngoài chợ.

Từ năm 118 TCN đến năm thứ 5 SCN, nhà nước đã đúc được hơn 28.000.000.000 đồng xu, trung bình hàng năm có 220.000.000 đồng xu được đúc (hoặc 220.000 chuỗi 1.000 đồng xu).[19] So với thời Thiên Bảo (天寶) (742–755 AD) của nhà Đường chẳng hạn, họ sản xuất 327.000.000 xu mỗi năm trong khi 3.000.000.000 xu vào năm 1045 SCN và nhà Tống cho đúc 5,860.000.000 xu vào năm 1080 SCN (960–1279 AD).19] Tiền xu trở thành thước đo sự giàu sang thời Đông Hán, vì tiền lương bấy giờ chỉ được trả bằng xu.[20] Đệ Ngũ Luân (第五倫) (40–85 SCN), Thái thú quận Thục (nay là Tứ Xuyên), mô tả sự giàu có của các quan chức cấp dưới của ông không phải là về đất đai, mà dưới dạng tài sản có tổng trị giá khoảng 10.000.000 xu.[21] Các giao dịch thương mại dùng đến hàng trăm ngàn đồng tiền cũng khá phổ biến. [21]

Angus Maddison ước tính rằng tổng sản phẩm quốc nội bình quân đầu người thời Hán tương đương 450 đô-la Mỹ (theo trị giá năm 1990), một khoản tiền rất lớn và không thay đổi đáng kể cho đến đầu thời nhà Tống vào cuối thế kỷ thứ 10.[22] Nhà Trung Hoa học Joseph Needham bất đồng với con số này, cho rằng GDP bình quân đầu người của Trung Quốc vượt hơn hẳn châu Âu từ thế kỷ thứ 5 TCN trở đi, cho rằng Trung Quốc lúc đó thịnh vượng hơn cả Đế chế La Mã đương đại.[23] Sự lưu thông rộng rãi của tiền xu làm đa dạng hóa thương nhân, những người đầu tư tiền của họ vào đất đai và trở thành những địa chủ giàu có. Nghịch lý thay, những tiến bộ trong việc lưu thông tiền xu đã giúp làm mạnh hơn những tầng lớp xã hội mà triều đình đang cố gắng đàn áp thông qua các loại thuế nặng, tiền phạt, sung công và điều tiết giá thị trường. [18]

Thuế, tài sản, và tầng lớp xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Hầu gái và nam cố vấn mặc áo lụa, hình nhân làm từ gốm sứ thời Tây Hán

Địa chủ và nông dân[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Thương Ưởng (mất năm 338 TCN), người nước Tần, bãi bỏ hệ thống tỉnh điền thiết chế (井田制度) để kiềm chế quyền lực của quý tộc, đất đai ở Trung Quốc có thể được mua và bán.[24] Các học giả thời Hán như Đổng Trọng Thư (179–104 TCN) cho rằng sự trỗi dậy của tầng lớp địa chủ giàu có bắt nguồn từ cải cách này.[24] Hàn Phi Tử mô tả việc sử dụng lao động làm thuê trong nông nghiệp của những chủ đất này, một nghề đã có từ thế kỷ thứ 3 TCN, và có thể sớm hơn.[24] Một số địa chủ sở hữu số lượng nhỏ nô lệ, nhưng hầu hết đều phụ thuộc vào nông dân thuê mướn, những người mà sẽ trả thuế với một phần thu hoạch của họ.[3][25] Chiếm đa số hơn tá điền là những tiểu địa chủ kiêm nông dân mưu sinh độc lập. Về sau, những người này thường nợ nần và bán đất cho những kẻ giàu có.[3] Quan triều đình Tiều Thố (mất năm 154 TCN) lập luận rằng nếu một hộ tiểu địa chủ độc lập trung bình gồm năm người, họ có thể canh tác không quá 4,57 hécta và sản xuất không quá 2.000 lít (530 US gal) ngũ cốc mỗi năm. Thiên tai và thuế suất cao sẽ khiến nhiều hộ dân đâm ra nợ nần, phải bán đất, nhà cửa và thậm chí là con ruột đi, rồi trở nên phụ thuộc vào công việc làm tá điền cho những kẻ giàu có.[26]

Các quan chức tại triều đình của Hán Ai Đế (r. 71 TCN) đã thực hiện các cải cách giới hạn số lượng đất mà quý tộc và địa chủ có thể sở hữu hợp pháp, nhưng không thành công.[27] Khi Vương Mãng lên nắm quyền vào năm 9 SCN, ông đã bãi bỏ việc mua và bán đất trong một hệ thống gọi Vương Điền. Đây là một biến thể của hệ thống tỉnh điền thiết chế, chính quyền sở hữu đất đai và đảm bảo cho nông dân các phần đất bằng nhau để canh tác.[28] Trong vòng ba năm, bất mãn từ giới địa chủ và quý tộc đã buộc Vương Mãng từ bỏ cải cách.[28] Sau khi Hán Canh Thủy Đế (r. 23 đấu25 AD) và Hán Quang Vũ Đế (r. 251357 AD) khôi phục triều đại, hai ông đều phải dựa vào quyền lực của quý tộc để cũng cố địa vị. Nhiều quan chức thời này trở thành địa chủ giàu có. [29]

Mô hình một cái giếng có mái che bằng gốm làm từ thời nhà Hán

Đến cuối thời Đông Hán, giai cấp nông dân phần lớn không có đất và phải đi làm thuê. Điều này cho nhà Hán một khoản lời từ thuế rất đáng kể.[30] Mặc dù chính quyền trung ương dưới thời Hán Hòa Đế (r. 88 đũa105 AD) giảm thuế nếu có thảm họa tự nhiên và chiến tranh mà không ảnh hưởng nhiều đến ngân khố, những hoàng đế tiếp theo ít có khả năng đối phó với các cuộc khủng hoảng lớn. Chính phủ sớm dựa vào chính quyền địa phương để tiến hành các nỗ lực cứu trợ.[31] Chính quyền trung ương không cung cấp cho chính quyền địa phương viện trợ trong đợt có nạn châu chấu và lũ sông Hoàng Hà vào năm 153 SCN, nhiều nông dân không có đất đã trở thành tá điền cho các đại địa chủ để tồn tại.[32] Patricia Ebrey viết rằng Đông Hán là "thời kỳ chuyển tiếp" giữa Tây Hán, khi những người nông dân nhỏ độc lập chiếm đa số và Tam quốc (220, 2626 sau Công nguyên) và sau đó là Thập Lục Quốc (304 so439 AD), khi các gia đình lớn sử dụng lao động nông nô. [33]

Cuộc khởi nghĩa Khăn vàng năm 184 SCN, cuộc tàn sát các hoạn quan Thập Thường Thị vào năm 189 SCN, và các chiến dịch chống Đổng Trác vào năm 190 SCN gây lục đục trong bộ máy chính quyền, và kinh đo Lạc Dương bị thiêu rụi.[34] Vào thời kì biến loạn này, trọng tâm quyền lực bắt đầu nghiêng về các địa chủ địa phương và tư nhân.

Mô hình gốm lục dứu nung dưới lửa nhẹ của một con vịt từ thời Đông Hán
Mô hình gốm thời Đông Hán của một con trâu, con ngựa, và người, tìm thấy tại một lăng mộ ở Lạc Dương

Tể tướng nhà Hán và vua của nước Ngụy Tào Tháo (155–220 SCN) đã thực hiện nỗ lực đáng kể cuối cùng nhằm hạn chế quyền lực của giới địa chủ giàu có. Tào Tháo thành lập các đồn điền do chính quyền quản lý và thuê thường dân không có đất; để đổi lấy đất và thiết bị giá rẻ, nông dân sẽ phải nộp một phần thu hoạch của họ cho nhà nước.[35] Vào khoảng những năm 120 TCN, Hán Vũ Đế đã cố gắng thiết lập các đồn điền ở biên giới phía tây bắc của hành lang Hà Tây mới bị chinh phục (tỉnh Cam Túc hiện nay). 600.000 người định cư bắt đầu canh tác trên những mảnh đất này với hạt giống, gia súc và nông cụ của chính quyền cho vay mượn.[36] Chiếu lệnh của nhà Hán vào năm 85 SCN bắt chính quyền các quận và các chư hầu chuyển giao nông dân không có đất cho các đồn điền của nhà nước, nơi họ sẽ được trả lương, cung cấp hạt giống để trồng trọt, cho mượn nông cụ để canh tác và được miễn trả thuế thuê trong 5 năm và thuế khoán trong 3 năm.[37] Chiếu lệnh cũng cho phép nông dân trở về huyện bản địa của họ bất cứ lúc nào.[37] Các chính quyền Tam Quốc sau này cũng thiết lập các đồn điền theo mô hình tương tự như vậy.[38]

Sinh kế[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiều học giả khẳng định nông dân thời Hán nói chung sống ở mức no đủ, chủ yếu dựa vào hai tài liệu từ Hán Thư. Tài liệu thứ nhất nói về Tướng quốc Lý Khôi (455-395 BCE); [39] cái thứ hai là một hồi ký được viết bởi Triều Thố (200-154 BCE).[40] Cả hai nhân vật đều xuất hiện trong Hán Thư Quyển 24, Thực hóa chí (食貨志). Lý Khôi và Triều Thố đều nhấn mạnh đến sự bấp bênh cực độ của đời sống nông nghiệp Hán, một quan điểm được tóm tắt lại bởi Hứa Trác Vân, người bình rằng nông dân Hán và tiền Hán chỉ có "một khoản tương đối nhỏ còn lại để chi tiêu cho các việc khác": "Ghi chép về khoản thu nhập và chi tiêu của một trang trại nhỏ trong thời kỳ tiền Chiến Quốc được trích dẫn trong Hán Thư là nhận thâm hụt 10% thu nhập mỗi năm, được cho là trong năm cây trồng cho sản lượng thấp. của [Chao Cuo] tình hình vẫn rất giống nhau... Vào thời [Triều Thố], tình hình vẫn như cũ."[41]

Theo Hans Bielenstein, mức đủ sống từ lúa gạo có thể được tính toán từ Hán Thư: "một hộ gia đình gồm một cụ già, một đàn ông, một phụ nữ, một đứa lớn và một đứa nhỏ hàng năm tiêu thụ 127 hộc thóc. Có nghĩa là khoảng 10.5 hộc thóc một tháng."[42] (Theo Swann, một hộc 斛 tương đương 0,565 giạ Mỹ, tức là khoảng 5 gallon hoặc 20 lít).[39] Hsu đặt con số sinh kế hàng năm ở mức 140 hốc.[43] Bielenstein cũng kiểm tra các bảng lương được đưa ra trong cả hai tài liệu Hán Thư và Hậu Hán Thư liệt kê mức lương chính thức là một nửa bằng tiền xu và một nửa bằng thóc. Dựa trên các bảng số liệu này, ông có được mối liên hệ giữa xu và hốc: "mức trung bình được chấp nhận là từ 70 đến 80 tiền xu thời Hán cũ và 100 tiền xu thời Hậu Hán."[44] Dựa trên chuyển đổi này, giá trị của thóc trong mức đủ sống là khoảng từ 8.890 đến 14.000 xu mỗi năm dưới triều Hán.

Chúng ta cũng có thể ước tính lượng đất cần thiết để sản xuất số lượng thóc này. Wolfram Eberhard đã "ước tính sản lượng trung bình trong khoảng 1,0 đến 1,5 shih mỗi mu", mặc dù Hsu lưu ý rằng, "Sản lượng cao có thể đạt tới mức 6,4 hốc mỗi mu."[45] Swann cho rằng 1 thạch 石 (bà ước lượng nó vào khoảng 64 lbs. 8,8 oz.") tương đương 1 đến 2 hốc, tùy thuộc vào loại thóc. Dựa trên ước tính của Eberhard và chuyển đổi của Swann giữa đơn vị thạch và hốc, một nông dân sẽ cần khoảng 85 đến 254 mẫu để sản xuất ra 127 hốc thóc mà Eberhard cho rằng là tối thiểu để một gia đình năm người đủ sống. Các học giả khác đưa ra những con sô khác nhau. Hsu tuyên bố rằng 50 mẫu (khoảng 5,7 mẫu Anh) trên thực tế là "diện tích cần thiết để đủ sống",[46] trong khi Vương Trọng Thù tính toán rằng "có trung bình 24,6 mẫu một hộ gia đình, hoặc chưa tới 6 mẫu mỗi người (với mỗi mẫu bằng khoảng 456 mét vuông)."[47] Cả Lý Khôi và Triều Thố đều tuyên bố rằng 100 mẫu là diện tích đất cần thiết để hỗ trợ một hộ gia đình, dù rằng chữ mẫu có nghĩa khác nhau giữa thời Lý Khôi và Triều Thố.[48]

Cải cách thuế[sửa | sửa mã nguồn]

Bởi vì các gia đình tiểu địa chủ đại diện cho phần đông người đóng thuế, triều đình đã gia sức hỗ trợ và bảo hộ các chủ đất nhỏ và hạn chế quyền lực của các địa chủ và thương nhân giàu có.[49] Chính quyền giảm thuế khi mùa vụ kém và cung cấp viện trợ nếu có thảm họa.[50] Miễn giảm thuế và cho vay giống cây trồng đã khuyến khích nông dân trở về đất của họ.[50] Một chiếu lệnh năm 94 SCN miễn thuế cho những nông dân bị di dời trong một năm khi họ quay trở lại đất.[51] Thuế đất đối với sản xuất nông nghiệp đã giảm vào năm 168 TCN từ 1/10 sản lượng nông sản xuống còn 1/30, và bãi bỏ hoàn toàn vào năm 167 TCN. Tuy nhiên, thuế đất được khôi phục vào năm 156 TCN với tỷ lệ 1/30.[52] Vào đầu thời Đông Hán, thuế đất là 1/10 sản lượng. Sau khi Vương Mãng mất, tỷ lệ này lại được cắt xuống còn 1/30 vào năm 30 SCN.[53]

Đến cuối triều đại nhà Hán, thuế đất đã giảm xuống còn 1%, bố chính lại với mức tăng thuế khoán và thuế tài sản.[54] Thuế khoán cho người trưởng thành là 120 xu mỗi năm, 240 xu nếu là thương nhân và 20 xu nếu là trẻ vị thành niên từ 3 đến 14 tuổi. Độ tuổi chịu thuế thấp nhất trở thành 7 tuổi từ đời Hán Nguyên Đế (48–33 TCN) trở đi.[55] Nhà sử học Charles Hucker bình rằng việc điều tra dân số địa phương thời Hán bị sai lệch một cách có chủ ý và phổ biến, vì khai thấp đi làm giảm số thuế phải trả và nghĩa vụ đối với chính quyền trung ương. [56]

Mô hình gốm thời Tây Hán của một chiến binh kỵ mã, thế kỷ 2 TCN

Mặc dù cần thêm ngân khố để tài trợ cho chiến tranh Hán-Hung Nô, chính phủ dưới thời Hán Vũ Đế (141–87 TCN) đánh thuế rất nhẹ đối với tiểu địa chủ. Để tăng ngân sách, nhà nước đánh thuế nặng hơn đối với giai cấp thương nhân, tịch thu đất của quý tộc, và thiết lập các độc quyền đối với nghề đúc tiền, luyện sắt và khai thác muối.[49] Thuế mới được áp đặt lên các tài sản như thuyền, xe đẩy, xe ngựa, cửa hàng và các loại tài sản khác. Thuế tài sản chung cho thương nhân tăng lên vào năm 119 TCN từ 120 xu cho mỗi 10.000 xu đáng giá của gia tài thành 120 xu cho mỗi 2.000 xu gia tài.[57] Thuế hàng hóa chưa được biết rõ, ngoại trừ thuế rượu. Sau khi độc quyền về rượu của nhà nước bị bãi bỏ vào năm 81 TCN, thuế tài sản 2 xu cho mỗi 0,2 lít (0,05 US gal) đánh vào các thương nhân rượu.[16]

Việc mua quan bán chức bắt đầu lại dưới thời Đông Hán bởi Đặng thái hậu, người lâm triều nhiếp chính từ 105–121 AD, để tăng ngân sách trong thời kỳ thiên tai nghiêm trọng và các cuộc nổi loạn lan rộng của người Khương ở miền tây Trung Quốc.[58] Việc mua bán chức vị trở nên cực kỳ thối nát dưới thời Hán Linh Đế (168–189 SCN), các vị trí cao hàng đầu thường được bán cho người trả giá cao nhất thay vì những cử nhân từ kì thi khoa cử hay đã học ở Thái Học. [59]

Nhập ngũ[sửa | sửa mã nguồn]

Tượng kỵ binh và bộ binh bằng gốm được sơn thời Tây Hán

Hai hình thức nhập ngũ hàng loạt tồn tại thời Hán. Đó là nhập ngũ dân sự (Canh Tốt 更卒) và nhập ngũ quân đội (Chánh Tốt 正卒). Ngoài việc trả thuế tiền tệ và hoa màu, tất cả nông dân thời Tây Hán trong độ tuổi từ 15 đến 56 phải đi nghĩa vụ bắt buộc một tháng hàng năm. Những nhiệm vụ này thường là đi lao động xây dựng. [60]

Ở tuổi 23, nam giới sẽ phải vào quân đội, nơi họ tuyển vào bộ binh, kỵ binh hoặc hải quân.[60] Sau một năm huấn luyện, họ sẽ tiếp tục nghĩa vụ tại các đồn bốt nơi biên cương hoặc làm lính gác tại kinh đô.[60] Sau đợt này, họ vẫn có thể bị cử đi cho đến năm 56 tuổi.[60] Đây cũng là độ tuổi mà họ được nghỉ hưu khỏi lực lượng dân quân địa phương, họ có chọn để tham gia đội dân quân một khi hoàn thành khóa huấn luyện.[61] Lính không chuyên nghiệp tạo nên Quân đội miền Nam (Nam Quân 南軍), trong khi Quân đội miền Bắc (Bắc Quân 北軍) là một đội quân thường trực gồm các binh sĩ tinh nhuệ được trả lương.[62]

Thời Đông Hán, nông dân có thể tránh được tháng nghĩa vụ hàng năm bằng cách trả thuế Canh Phú (更賦). Điều này là do chính quyền đã bắt đầu sử dụng lao động trả lương.[63] Vì chính phủ Đông Hán ủng hộ việc tuyển dụng tình nguyện viên quân sự, dự thảo quân sự bắt buộc cho nông dân ở tuổi 23 có thể tránh được bằng cách trả thuế.[64]

Thương gia[sửa | sửa mã nguồn]

Tượng động vật bằng đồng được thếp vàng thời Hán, bao gồm một con ngựa, voi, bò, và kỳ lân

Có hai loại thương nhân người Hán: những người buôn bán ở chợ thành thị và những người buôn lưu động đi lại giữa các thành phố và ra nước ngoài.[65] Các chủ cửa hàng đô thị quy mô nhỏ phải đăng ký trước và phải trả thuế thương mại nặng.[65] Mặc dù những thương nhân đã đăng ký này đã bị đánh thuế, một chiếu lệnh năm 94 SCN cho nông dân không có đất phải đi bán hàng rong được miễn thuế.[51]

Các thương nhân lưu động thường giàu có và không phải đăng ký với chính quyền.[65] Những người này thường tham gia vào thương mại quy mô lớn với các gia đình và quan chức quyền lực.[65] Nishijima viết rằng hầu hết các tiểu sử của "những người đàn ông giàu có" trong Sử ký Tư Mã ThiênHán Thư nói về những thương nhân lưu động.[65]

Ngược lại, các thương nhân có đăng ký bán hàng ở chợ có địa vị xã hội thấp hơn và thường bị hạn chế bổ sung.[66] Hán Cao Tổ đã thông qua luật đánh thuế nặng hơn, cấm các thương nhân mặc lụa và cấm con cháu của họ thực hiện công vụ. Sắc lệnh mới này rất khó thực thi.[66] Hán Vũ Đế đánh thuế cả thương nhân đã đăng ký lẫn không đăng ký. Các thương nhân đã đăng ký không được phép sở hữu đất đai, nếu vi phạm, đất đai và nô lệ của họ sẽ bị tịch thu.[66] Tuy nhiên, chính những thương nhân giàu có không đăng ký lại sở hữu những vùng đất rộng lớn.[67] Vũ Đế kiềm chế ảnh hưởng của các thương nhân lớn bằng cách công khai cạnh tranh với họ trên thị trường bằng cách thành lập các cửa hàng do triều đình quản lý.[49]

Thủ công nghiệp và nghề do nhà nước kiểm soát[sửa | sửa mã nguồn]

Sản xuất tư nhân và độc quyền chính phủ[sửa | sửa mã nguồn]

Sắt và muối[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu nhà Hán, các doanh nghiệp muối và sắt của Trung Quốc được sở hữu tư nhân bởi các thương nhân giàu có và các vị vương chư hầu. Lợi nhuận từ đây cạnh tranh với của triều đình.[68] Một nhà khai thác sắt hoặc muối thành công sử dụng hơn một ngàn nông dân, việc đồng áng do đó bị bỏ bê và làm thâm hụt tô thuế mà chính phủ đặt ra.[69] Để hạn chế quyền lực của thương nhân, Vũ Đễ đã quốc hữu hóa muối và sắt vào năm 117 TCN. [70]

Nhà Hán cũng thiết lập độc quyền thương mại rượu vào năm 98 TCN. Tuy nhiên, nó bị bãi bỏ vào năm 81 TCN trong nỗ lực giảm sự can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế tư nhân.[71]

Phái Cải cách ủng hộ tư nhân hóa, chống lại Phái Hiện đại, vốn thâu tóm chính trị dưới triều đại của Vũ Đế và triều đại sau đó của Hoắc Quang (mất năm 68 TCN).[72] Người theo chủ nghĩa hiện đại chỉ ra rằng các độc quyền này đã cung cấp nguyên liệu thô dồi dào, điều kiện làm việc tốt và sắt chất lượng cao cho đất nước; Các nhà cải cách phản bác rằng các xưởng sắt thuộc sở hữu của nhà nước sản xuất các dụng cụ lớn và không thực tế chỉ để đáp ứng hạn ngạch thay vì phù hợp với thực tiễn, có chất lượng kém và đắt đỏ đối với dân thường.[73] Vào năm 44 TCN, các nhà cải cách đã bãi bỏ cả hai độc quyền muối và sắt, nhưng các độc quyền đã được phục hồi vào năm 41 TCN sau khi đóng cửa đột ngột khiến tổn thất ngân khố và gián đoạn nền kinh tế tư nhân.[74]

Vương Mãng bảo tồn các độc quyền chính phủ trung ương. Tới thời Đông Hán, một lần nữa lại bị bãi bỏ, thủ công nghiệp lại thuộc sở hữu của chính phủ các quận bộ và tư nhân.[75] Hán Chương Đế (75–88 SCN) lại đưa ra chính sách độc quyền về muối và sắt từ năm 85 đến 88 SCN, nhưng dỡ bỏ trong những năm cuối. Từ đó trở đi, nhà Hán chưa bao giờ quốc hữu hóa muối và sắt một lần nữa. [76]

Thóc[sửa | sửa mã nguồn]

Buôn bán thóc tư nhân rất có hời dưới thời Tây Hán. Vũ Đế đã can thiệp vào việc buôn bán này bằng phương án trữ hàng đệm vào năm 110 TCN. [77] Triều đình mua thóc khi nó còn dồi dào và rẻ tiền, vận chuyển thóc đến kho để lưu trữ hoặc đến các khu vực khan hiếm thóc.[78] Hệ thống này được dự định để loại bỏ đầu cơ thóc, để đưa ra một mức giá tiêu chuẩn và tăng thu nhập của nhà nước.[78] Hệ thống này được thiết kế bởi công chức Tang Hoằng Dương (khoảng năm 80 TCN) từng là một thương gia. Hoằng Dương bị giới thương nhân chỉ trích vì đặt các quan chức chính phủ trong các quầy hàng ở chợ.[79] Hệ thống cung cấp này bị dỡ bỏ thời Đông Hán, mặc dù đã được Hán Minh Đế (r. 57 hồi75) giới thiệu lại trong một thời gian ngắn. Minh Đế cũng bãi bỏ hệ thống này vào năm 68 SCN, khi ông cho rằng việc tồn kho thóc của chính phủ làm tăng giá gạo và địa chủ giàu trở nên giàu hơn.

Ebrey lập luận rằng mặc dù hầu hết các chính sách tài khóa của Vũ Đế bị bãi bỏ thời Đông Hán, thiệt hại của chúng đối với tầng lớp thương gia và các chính sách laissez-faire sau đó của Đông Hán đã cho phép các địa chủ giàu có thống trị xã hội, đảm bảo rằng nền kinh tế của Trung Quốc sẽ vẫn vững chắc dựa trên nền tảng nông nghiệp trong nhiều thế kỷ.[49] Chính quyền trung ương Đông Hán đã mất một nguồn thu quan trọng do từ bỏ các ngành công nghiệp muối và sắt và phải mua kiếm và khiên cho quân đội từ các nhà sản xuất tư nhân. Tuy nhiên, tổn thất doanh thu này thường được bù đắp bằng tô thuế cao hơn đánh vào thương nhân.[81]

Xưởng sản xuất của nhà nước[sửa | sửa mã nguồn]

Các xưởng của nhà Hán sản xuất các đồ tiện dụng, sang trọng và thậm chí là mang tính nghệ thuật, như các bức tượng gốm và gạch tô điểm cho các bức tường của các ngôi mộ dưới lòng đất.[82] Các xưởng này được điều hành bởi Cửu Khanh, có trách nhiệm kiểm soát ngân khố và tài chính tư nhân của hoàng đế.[83]

Các công trình công cộng[sửa | sửa mã nguồn]

Kiến trúc sư triều đình có trách nhiệm giám sát tất cả các dự án xây dựng của hoàng đế và các công trình công cộng, bao gồm cả việc xây dựng các cung điện và lăng mộ.[92]

Thời Tây Hán, nông dân đi phu được tổ chức thành các nhóm gồm hơn một trăm ngàn lao động. Khoảng 150.000 công nhân phục vụ trong các giai đoạn ba mươi ngày liên tiếp mỗi năm năm, đã làm việc trên các bức tường thành khổng lồ của Trường An, được hoàn thành vào năm 190 TCN.[93] Những người lao động được giao nhiệm vụ xây dựng và duy trì các đền thờ dành riêng cho các vị thần khác nhau và tổ tiên hoàng đế.[94] Họ cũng phải duy trì hệ thống kênh được sử dụng cho tưới tiêu, thủy lợi và giao thông.[95] Một số dự án cải tạo kênh Hán lớn hơn bao gồm sửa chữa Đô Giang YểnKênh Trịnh Quốc, được xây dựng dưới đời Tần (221–206 TCN). [95]

Mười chín bia đá chạm khắc kỷ niệm việc xây dựng những con đường và cây cầu mới của nhà Đông Hán còn tồn tại.[96] Các cuộc khai quật khảo cổ tại Trường An tìm thấy các cây cầu bằng gỗ bắc qua hào nước phòng thủ và dẫn đến cổng thành.[97] Đường bộ cũng cần được sửa chữa định kỳ; vào năm 63 SCN, con đường dẫn từ dãy núi Kỳ Liên Sơn, qua Hán Trung (miền nam Sơn Tây hiện đại) hướng về Lạc Dương đã trải qua nhiều cuộc bảo quản lớn.[96] Đối với dự án này, 623 trụ cầu, năm cây cầu lớn, 107 km (66 mi) đường mới và 64 tòa nhà mới, bao gồm nhà nghỉ, trạm bưu điện và trạm chuyển tiếp, đã được xây dựng. [96] Trong chiến dịch chống Hung Nô ở sa mạc Ordos vào năm 127 TCN, tướng Vệ Thanh (mất năm 106 TCN) đã cho xây một cây cầu trên sông Qua (một nhánh cũ của sông Hoàng Hà) ở Nội Mông ngày nay. Ông sử dụng cây cầu này để di chuyển quân đội và tiếp tế cho một cuộc tấn công quân Hung Nô, phía tây bắc của quận Ngũ Nguyên hiện đại (五原县). [98] Ebrey viết: [99]

Tất nhiên, có rất nhiều lý do để duy trì đường sá. Một chính thể thống nhất chỉ có thể được duy trì bởi một chính phủ có hệ thống để điều động quan chức, quân đội hoặc sứ giả nhanh chóng nhất khi cần thiết. Một hệ thống giao thông như vậy, một khi được thiết lập, sẽ tạo thuận lợi cho thương mại. Ở cấp địa phương, các dự án cầu đường được khởi xướng vì lợi ích của các thương nhân lưu hành cũng như cho các quan chức.[15]

Nội thương[sửa | sửa mã nguồn]

Hàng hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Một bộ chén và bát đĩa màu đỏ và đen được sơn mài từ ngôi mộ No.1 tại di chỉ Mã Vương Đống, thế kỷ thứ 2 TCN, đời Tây Hán

Các sử gia thời Hán như Tư Mã Thiên (145–86 BC) và Ban Cố (32–92 AD), cũng như Phạm Diệp (398 Chuyện445 sau Công nguyên), đã ghi lại chi tiết về các giao dịch kinh doanh và sản phẩm được buôn bán bởi các thương nhân Hán. Bằng chứng về các sản phẩm này cũng đã xuất hiện từ các cuộc khai quật khảo cổ.

Các loại lương thực nông nghiệp thời nhà Hán là kê vàng, kê proso, gạo (bao gồm gạo nếp), lúa mì, đậu và lúa mạch.[100] Các mặt hàng thực phẩm khác bao gồm lúa miến, khoai môn, cẩm quỳ, cây mù tạt, táo tàu, lê, mận, đào, mơ và thanh mai.[101] Các loại thịt như: gà, vịt, ngỗng, bò, lợn, thỏ, hươu sao, cu gáy, cú, đa đa tre Trung Quốc, ác là, gà lôi, sếu, và các loại cá thường được tiêu thụ. [102]

Sản xuất tơ lụa bằng trồng dâu tằm đã mang lại lợi nhuận cho cả nông dân và các nhà sản xuất quy mô lớn. Quần áo lụa đắt đỏ đối với người nghèo, họ mặc quần áo thường được làm từ gai dầu.[103] Phụ nữ nông thôn thường đan tất cả quần áo của gia đình. [104]

Các mặt hàng bằng đồng phổ biến bao gồm các đồ gia dụng như đèn dầu, lư hương, bàn, bàn là, bếp lò và bình. Hàng hóa bằng sắt thường được sử dụng để tạo nông cụ, chẳng hạn như lưỡi cày, cuốc, thuổng, xẻng, cuốc, liềm, rìu, búa, đục, dao, cưa, bôn, cào, và đinh.[105] Sắt cũng được sử dụng để chế tạo kiếm, kích, đầu mũi tên và áo giáp cho quân đội. [106]

Dù chó được tiêu thụ dưới thời Hán, chúng cũng được nuôi như thú cưng. Hầu hết chó được giữ làm vật nuôi, còn một số được nuôi để lấy thịt.;[16] hai con chó trong ngôi mộ thời Hán, trang trí với vòng cổ.

Các mặt hàng phổ biến khác bao gồm: hàng tiêu dùng (rượu, dưa chua và nước sốt, cừu và lợn, ngũ cốc, men, gia vị đậu, cá khô và bào ngư, chà là, hạt dẻ, rau quả), nguyên liệu (da gia súc, gỗ thuyền, đầu tre, thuốc nhuộm, sừng, chu sa, sơn mài thô, ngọc bích, hổ phách), quần áo (vải lụa, vải mịn và vải thô, quần áo da chồn và da cáo, nỉ và chiếu, dép da nai), dụng cụ nhà bếp (bằng đồng và đũa, bình đựng nước bạc, gỗ và sắt, đồ gốm), đồ nghệ thuật (đồ sơn mài, gốm sứ), quan tài trang nhã (làm từ catalpa, dương hòe, bách xù và gỗ sơn mài), các phương tiện như xe đẩy hai bánh và xe bò, và xe ngựa. [107]

Ngoài các mặt hàng nói chung, các sử gia nhà Hán có liệt kê các sản vật của nhiều khu vực cụ thể. Sơn Tây có tre, gỗ, thóc và đá quý; Sơn Đông có cá, muối, rượu và lụa; Giang Nam có long não, núc nác, gừng, quế, vàng, thiếc, chì, chu sa, sừng tê giác, mai rùa, ngọc trai, ngà voi và da động vật.[108] Ebrey liệt kê các vật phẩm được tìm thấy trong một ngôi mộ thế kỷ thứ 2 ở Vũ Uy, Cam Túc (dọc theo Hành lang Hà Tây được củng cố bởi Vạn Lý Trường Thành của Trung Quốc), là bằng chứng cho thấy các cống phẩm lạ vẫn có thể được tu thập từ các nơi xa xôi.[17]

... mười bốn mảnh gốm; các đồ vật bằng gỗ như ngựa, lợn, bò, gà, chuồng gà và một con vật có sừng; bảy mươi đồng xu; một cơ chế nỏ làm bằng đồng; một bút viết; một mực in sơn mài; một khay sơn mài và bát; một chiếc lược gỗ; một vật trang trí bằng ngọc bích; một đôi giày gai dầu; một túi rơm; phần còn lại của một biểu ngữ khắc lên; một cái kẹp tóc bằng tre; hai chiếc ống hút rơm; và một chiếc đèn bằng đá.[17]

Quản lý và thương mại tại gia[sửa | sửa mã nguồn]

Viên gạch Đông Hán được khắc này, từ bức tường trong buồng ngôi mộ của một gia đình giàu có và quyền lực ở Thành Đô, mô tả ngôi nhà của một quan chức nhà Hán giàu sang, có ảnh hưởng; nó có một khoảng sân với tường bao quanh, khu nhà ở, phòng ngủ, hội trường, nhà bếp, giếng trời và một tháp canh. Chủ nhà và khách ngồi uống rượu ở sân trong, trong khi hai con gà chọi đánh nhau và hai con sếu nhảy múa.
Hũ đựng ốc, Tây Hán (202 TCN - 9 SCN), Bảo tàng tỉnh Vân Nam, Côn Minh; vỏ ốc tiên được dùng như đơn vị trao đổi ở phần này của Trung Quốc và được trữ trong những cái hũ trang trí điêu nghệ như cái này, một hình nhân kỵ binh thếp vàng được cắm ở trên, bao quanh bởi bốn con trâu, và chúng bị rình bởi hai con hổ bên thân hũ.

Vào đầu thời Đông Hán, Minh Đế thông qua các đạo luật cấm người làm nông tham gia buôn bán trọng thương.[18] Những luật này phần lớn không có hiệu lực, vì những chủ đất và chủ nhà giàu có đã kiếm được lợi nhuận đáng kể từ việc buôn bán hàng hóa được sản xuất trên đất của họ.[18] Thôi Thực(催寔) (mất năm 170 SCN), người sau này làm việc trong triều đình, bắt đầu kinh doanh rượu tại gia để chi trả cho tang lễ của cha ông. Bạn bè chê trách ông, cho rằng việc kinh doanh là vô đạo đức, tuy không phạm pháp.[18]

Cuốn sách Tứ Dân Nguyệt Linh (四民月令) của Thôi Thực là tác phẩm quan trọng duy nhất còn sót lại bàn về nông nghiệp thời Đông Hán,[19] mặc dù cuốn Phiếm Thăng Chi Thư dài 3000 chữ, có niên đại về thời Hán Thành Đế (33–7 TCN), vẫn tồn tại.[20] Cuốn sách của Thôi Thực cung cấp mô tả về nghi lễ thờ cúng tổ tiên, lễ hội và lễ kỷ niệm ngày lễ tôn giáo, tiến hành các mối quan hệ gia đình và thân tộc, công việc đồng áng, và mùa học cho con trai. Cuốn sách của Thôi Thực cũng cung cấp các hướng dẫn chi tiết về tháng nào là thời điểm thuận lợi nhất để mua và bán một số loại nông sản.[21]

Goods bought and sold throughout the year at the estate of Cui Shi (催寔)[22]
Tháng Mua Bán
2 Gỗ đốt và than gỗ Kê, đậu nành and các loại đậu, gai dầu và lúa mì
3 Quần áo gai dầu Kê nếp
4 Đại mạch không vỏ và thường
5 Đại mạch không vỏ và thường, lúa mì, tơ lụa, quần áo làm từ gai dầu và lụa, rơm rạ Đậu nành và các loại đậu, vừng
6 Đại mạch không vỏ, lúa mì, lụa mỏng và dày Đậu nành
7 Lúa mì hoặc đại mạch, lụa mỏng và dày Đậu nành và các loại đậu
8 Giày da, kê nếp Lúa mì hạt hoặc đại mạch
10 Kê không vỏ, đậu và hạt gai dầu Tơ lụa, lụa
11 Gạo không nếp, kê, đậu và hạt gai dầu

Ngoại thương và cống nạp[sửa | sửa mã nguồn]

Lụa dệt từ Lăng mộ số 1 tại Di chỉ Mã Vương Đôi, Trường Sa, tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc, có niên đại thời Tây Hán, thế kỷ thứ 2 TCN
Một con tê giác bằng đồng thời Tây Hán

Trước triều đại nhà Hán, các khu chợ gần biên giới phía bắc của Trung Quốc tham gia buôn bán với các bộ lạc du mục ở phía đông Thảo nguyên Á-Âu. [123] Hòa thân giữa người Hán và Hung Nô du mục đảm bảo toàn vẹn lãnh thổ nhưng đổi lại họ phải phải triếu cống cho người Hung. Số lượng chính xác của cống phẩm hàng năm vào thế kỷ thứ 2 TCN là không rõ. Vào năm 89 TCN, khi Hồ Lộc Cô (狐鹿姑) (r. 95–85 TCN) yêu cầu gia hạn thỏa thuận hòa thân, ông đã đưa ra một khoản cống nạp hàng năm là 400.000 lít hoặc 10.000 dan rượu, 100.000 lít hoặc 5.000 hộc ngũ cốc và 10.000 kiện lụa.[124][125] Lượng rượu, ngũ cốc và lụa này tăng đáng kể so với trước đó, vốn phải thấp hơn nhiều.[124] Bên cạnh những thỏa hiệp này, trao đổi thương mại phổ biến nhất giữa thương nhân Hung Nô và Hán bao gồm đổi lông và ngựa Hung Nô lấy nông sản Hán và các mặt hàng xa xỉ, đặc biệt là lụa.[123] Thông qua chợ đen, Hung Nô có thể buôn lậu vũ khí sắt của Hán qua biên giới.[123]

Nhà Hán lan tầm ảnh hưởng đến bồn địa Tarim tại Trung Á dưới thời Hán Vũ Đế (141–87 BC). Sứ thần nhà Hán dâng tặng cừu, vàng và lụa cho các thành bang ốc đảo trong khu vực.[123] Người Trung Quốc đôi khi sử dụng vàng làm tiền tệ; tuy nhiên, lụa được ưa chuộng như một phương tiện để trả tiền ăn và ở. [123] Khi người Hán thu phục bồn địa Tarim và thành lập đô hộ phủ tại đó, sứ thần Hán tới đây được cung cấp thức ăn và chỗ ở miễn phí. Những người này có nhiệm vụ thu thập các cống phẩm như lông thú, đá quý và món ngon như nho khô Trung Á dâng lên triều đình tại kinh đô.[123] Ba Tư dâng tặng nhiều loài vật lạ hiếm (như sư tử và đà điểu) lên triều đình Hán, và một vị vua cai trị tại nơi mà ngày nay Miến Điện đã gửi voi và tê giác.[126] Các phái đoàn ngoại giao Hán đến các triều đình hoàng gia trên khắp châu Á thường đi kèm với các đoàn lữ hành thương mại thu được lợi nhuận đáng kể.[127]

Triều đình Hán lấy cống phẩm từ thủ lĩnh Hung Nô Hô Hàn Từ (呼韓邪) (r. 58 Thay31 TCN), kẻ thù của Chí Chi (郅支) (r. 56. Hô Hàn Từ cống nạp, trao đổi con tin và trình diện tại Tràng An vào Tết âm năm 51 TCN đã được tặng thưởng những món quà sau đây từ hoàng đế: 5 kg (160 ozt) vàng, 200.000 đồng xu, 77 bộ quần áo, 8.000 kiện vải lụa, 1.500 kg (3.300 lb) chỉ tơ tằm, 15 con ngựa và 680.000 lít (19.000 giạ Mỹ) thóc.[128] Tuy nhiên, đây là lần duy nhất thiên triều tặng thưởng bằng những thứ ngoài vải. Như thể hiện trong bảng dưới đây, dựa trên cuốn "Quan hệ đối ngoại nhà Hán" của Dư Anh Thời (1986), những món quà chỉ bao gồm lụa sau năm 51 TCN, và sự quy phục của Hung Nô chỉ được đảm bảo miễn là nhà Hán có thể cung cấp cho họ số lượng lớn lụa tơ tằm với mỗi chuyến thăm lên triều đình Trung Quốc. [129]

Imperial Han gifts received by the Xiongnu Chanyu during trips of homage to the Han court in Chang'an[23]
Năm (BC) Silk floss (measured in catties) Silk fabric (measured in bales)
51 1,500 8,000
49 2,000 9,000
33 4,000 18,000
25 5,000 20,000
1 7,500 30,000
Ảnh trái: Minerva trên một cái đĩa thếp bạc thời Cộng hòa La Mã, thế kỷ thứ nhất TCN; một cái đĩa La Mã tương tự cũng được khai quật tại Tĩnh Viễn, Cam Túc, Trung Quốc, niên đại từ thế kỷ thứ 2 và 3 SCN, có hình khắc của vị thần Hy La Dionysos.[24]
Ảnh phải: Bát thủy tinh xanh thời Tây Hán; mặc dù người Trung Quốc đã làm đồ thủy tinh từ thời Xuân Thu (722–481 TCN), đồ thủy tinh lần đầu tiên xuất hiện dưới thời Tây Hán.[25]

Con đường tơ lụa được thiết lập dưới triều đại của Hán Vũ Đế, nhờ vào nỗ lực của nhà ngoại giao Trương Khiên. Nhu cầu lụa từ Đế chế La Mã đã kích thích giao thông thương mại ở cả Trung Á và trên khắp Ấn Độ Dương. Các thương nhân La Mã đi thuyền đến Barbarikon gần thành phố Karachi, Pakistan và Barygaza ở Gujarat, Ấn Độ ngày nay để mua lụa Trung Quốc (xem giao dịch La Mã với Ấn Độ).[132] Khi Vũ Đế chinh phục Nam Việt, vùng Tây Nam Trung Quốc và miền bắc Việt Nam, vào năm 111 TCN, khiến thương mại được mở rộng tới Đông Nam Á và Ấn Độ Dương, khi các thương nhân hàng hải đổi vàng và lụa của nhà Hán lấy ngọc trai, ngọc bích, lapis lazuli và đồ thủy tinh [133]

Hậu Hán Thư chép rằng các phái viên La Mã do Hoàng đế Marcus Aurelius (r. 161–180 SCN) gửi đi, theo một tuyến đường phía nam, đã mang cống phẩm dâng lên Hán Hoàn Đế (r. 146–168 AD) vào năm 166 SCN.[134]Sau này, nhà ngoại giao Cam Anh thất bại trong nỗ lực đến Rome năm 97. Cam Anh dừng chân tại Vịnh Ba Tư, bởi chính quyền Arsacid, và chỉ có thể báo cáo về Rome dựa trên các chuyện truyền miệng.[135]136[137] Các nhà sử học Charles Hucker và Rafe de Crespigny đều cho rằng hai người La Mã năm 166 SCN không thực chất là sứ thần của triều đình Rome mà chỉ là hai thương nhân thường từ La Mã; [138] Hucker viết: [139]

Cốc thủy tinh màu lục La Mã khai quật từ ngôi mộ Đông Hán, Quảng Tây, Trung Quốc.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Hinsch 2002, tr. 24–25; Cullen 2006, tr. 1.
  2. ^ Nishijima 1986, tr. 574.
  3. ^ Hinsch 2002, tr. 28.
  4. ^ Nishijima 1986, tr. 574–575; Stearns & Langer 2001, tr. 51.
  5. ^ Schinz 1996, tr. 136; Nishijima 1986, tr. 595–596.
  6. ^ Schinz 1996, tr. 140; Wang 1982, tr. 1–4, & 30.
  7. ^ Wang 1982, tr. 1–4, 30; Hansen 2000, tr. 135–136.
  8. ^ a ă Nishijima 1986, tr. 575–576.
  9. ^ a ă Nishijima 1986, tr. 586.
  10. ^ a ă â Nishijima 1986, tr. 586–587.
  11. ^ Nishijima 1986, tr. 587.
  12. ^ a ă Ebrey 1986, tr. 609; Bielenstein 1986, tr. 232–233; Nishijima 1986, tr. 588.
  13. ^ Nishijima 1986, tr. 587–588.
  14. ^ Bielenstein 1980, tr. 47 & 83.
  15. ^ Ebrey 1986, tr. 614.
  16. ^ Wang 1982, tr. 57 & 203.
  17. ^ a ă Ebrey 1986, tr. 611–612.
  18. ^ a ă â Ebrey 1986, tr. 615.
  19. ^ Nishijima 1986, tr. 566–567.
  20. ^ Nishijima 1986, tr. 564.
  21. ^ Ebrey 1986, tr. 615; Nishijima 1986, tr. 567–568.
  22. ^ Ebrey 1974, tr. 198.
  23. ^ Yü 1986, tr. 396–397.
  24. ^ Harper 2002, tr. 106 (Fig. 6).
  25. ^ An 2002, tr. 79, 82–83.
  26. ^ Harper 2002, tr. 106–107.