Kirill Semyonovich Moskalenko

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Kirill Moskalenko
Kirill Moskalenko 01.jpg
Tiểu sử
Sinh(1902-05-11)11 tháng 5, 1902
Grishino, Yekaterinoslav Governorate,
Đế quốc Nga
(nay thuộc Ukraina)
Mất17 tháng 6, 1985(1985-06-17) (83 tuổi)
Moskva, Liên Xô
Nơi chôn cấtNghĩa trang Novodevichy
Binh nghiệp
Phục vụCờ Liên Xô Liên Xô
Năm tại ngũ1920–1985
Cấp bậcNguyên soái Liên Xô
Chỉ huyTập đoàn quân 38
Tập đoàn quân 40
Quân khu Moskva
Lực lượng Tên lửa chiến lược
Tham chiếnNội chiến Nga
Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại
Khen thưởngAnh hùng Liên Xô (2 lần)
Công việc khácTư lệnh Lực lượng Tên lửa chiến lược

Kirill Semyonovich Moskalenko (tiếng Nga: Кири́лл Семёнович Москале́нко, tiếng Ukraina: Кирило Семенович Москаленко; 11 tháng 5 năm 1902 - 17 tháng 6 năm 1985) là một Nguyên soái Liên Xô. Ông từng chiến đấu trong cả Nội chiến NgaChiến tranh Vệ quốc vĩ đại, từng giữ chức Tư lệnh Lực lượng Tên lửa Chiến lược và Tổng Thanh tra Bộ Quốc phòng.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Moskalenko sinh tại làng Grishino, tỉnh Yekaterinoslav, Đế quốc Nga (nay thuộc Krasnoyarmiisk Pokrovsk Raion, Donetsk Oblast, Ukraina), trong một gia đình nông dân người Ukraina. Ông theo học một số học viện quân sự và gia nhập Hồng quân năm 1920 và chiến đấu trên nhiều mặt trận khác nhau trong cuộc Nội chiến Nga.

Trong Chiến tranh Liên Xô-Phần Lan, ông là chỉ huy pháo binh thuộc Sư đoàn súng trường 51. Khi Chiến dịch Barbarossa bắt đầu vào tháng 6 năm 1941, Moskalenko là chỉ huy của một lữ đoàn chống tăng. Trong khoảng thời gian từ tháng 6 năm 1941 đến tháng 3 năm 1942, Moskalenko lần lượt giữ quyền các chỉ huy Lữ đoàn chống tăng số 1, Quân đoàn súng trường 15, Tập đoàn quân đoàn 6 và sau đó là Quân đoàn kỵ binh số 6. Ông là chỉ huy của Tập đoàn quân 38 mới, được cải tổ từ tháng 3 đến tháng 7 năm 1942. Sau đó, ông được bổ nhiệm làm Tư lệnh Tập đoàn quân xe tăng 1 (tháng 7 năm 1942) và Tập đoàn quân Cận vệ 1 (tháng 8 năm 1942) trước khi được chỉ định làm chỉ huy Tập đoàn quân 40, độc lập với Phương diện quân Voronezh, một vị trí ông giữ cho đến tháng 10 năm 1943. Moskalenko chỉ huy đơn vị tham gia cuộc phản công mùa đông và trong Trận Vòng cung Kursk. Vì những đóng góp của ông cho một số lượng lớn các trận đánh quan trọng, như Moskva, Stalingrad, và Kursk, Moskalenko đã được trao tặng danh hiệu Anh hùng Liên Xô.

Từ tháng 10 năm 1943 cho đến khi kết thúc chiến tranh, Moskalenko là chỉ huy của Tập đoàn quân 38. Ông chỉ huy đơn vị mình đánh đuổi quân Đức khỏi Ukraina, Ba LanTiệp Khắc.

Hậu chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Một trong những bức ảnh cuối cùng của nguyên soái Moskalenko.

Sau chiến tranh, Moskalenko đã phục vụ trong nhiều vị trí khác nhau trong Quân khu Moskva, trước khi được bổ nhiệm làm Tư lệnh quân khu năm 1953.

Ngày 25 tháng 7 năm 1953, Nikita Khrushchev cùng với Nguyên soái Georgy Zhukov và Kirill Moskalenko đã bí mật bắt giữ Phó Thủ tướng thứ nhất của Liên Xô Lavrentiy Beria trong một cuộc họp. Trong khi Zhukov không thể mang súng vào Điện Kremli, Moskalenko đã tìm cách bí mật mang theo súng vào để bắt Beria. Trong 6 tháng sau đó, ông tham gia điều tra "Vụ án Beria". Tháng 12 năm 1953, Tòa án Tối cao Liên Xô đã tuyên án Beria phạm tội sau một quá trình tố tụng kéo dài 5 ngày. Ngày 23 tháng 12, Beria bị đưa ra xử bắn.

Ngày 11 tháng 3 năm 1955, Moskalenko, cùng với năm tướng lĩnh khác, được phong quân hàm Nguyên soái Liên Xô. Moskalenko ở lại Quân khu Moskva cho đến năm 1960, khi ông được bổ nhiệm làm Tư lệnh các lực lượng tên lửa chiến lược. Năm 1962, ông được chuyển sang làm Tổng Thanh tra Bộ Quốc phòng.

Ông qua đời ngày 17 tháng 6 năm 1985 và được chôn cất tại Nghĩa trang Novodevichy.

Danh hiệu và giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Anh hùng Liên Xô 2 lần ("Sao vàng" № 2002, 23 tháng 10 năm 1943 và "Sao vàng" № 105, ngày 21 tháng 2 năm 1978)
  • Bảy Huân chương Lenin (22 tháng 7 năm 1941, 23 tháng 10 năm 1943, 6 tháng 11 năm 1945, 7 tháng 3 năm 1962, 10 tháng 5 năm 1972, 21 tháng 2 năm 1978, 10 tháng 5 năm 1982)
  • Huân chương Cách mạng Tháng Mười (22 tháng 2 năm 1968)
  • Huân chương Cờ đỏ, 5 lần (7 tháng 4 năm 1940, 27 tháng 8 năm 1943, 3 tháng 11 năm 1944, 15 tháng 11 năm 1950, 28 tháng 1 năm 1954)
  • Huân chương Suvorov, hạng 1, hai lần (28 tháng 1 năm 1943, 23 tháng 5 năm 1943)
  • Huân chương Kutuzov, hạng 1, hai lần (29 tháng 5 năm 1944, 25 tháng 8 năm 1944)
  • Huân chương Bogdan Khmelnitsky, hạng 1 (10 tháng 1 năm 1944)
  • Huân chương Chiến tranh ái quốc, hạng 1 (6 tháng 4 năm 1985)

Lược sử quân hàm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nguyên soái K.S. Moskalenko (Tư lệnh Tập đoàn quân 38), Về hướng Tây Nam, Moskva, Khoa học, 1969
  • Nguyên soái K.S. Moskalenko (Tư lệnh Tập đoàn quân 38), Về hướng Tây Nam, 1943 -1945, Moskva, Khoa học, năm 1972

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]