Kitô giáo

Đây là một bài viết cơ bản. Nhấn vào đây để biết thêm thông tin.
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Kitô giáo (Cơ Đốc giáo)
Nhà thờ Cái Đôi ở tỉnh An Giang, Việt Nam.
Nhà thờ Cái Đôi ở tỉnh An Giang, Việt Nam.
LoạiTôn giáo
Định hướngAbraham
Kinh thánhKinh Thánh
Thần họcĐộc thần
VùngToàn cầu
Người sáng lậpTheo Kinh Thánh là Giêsu
Thành viênKhoảng 2,6 tỷ người
Thánh giá

Kitô giáo (còn gọi là Cơ Đốc giáo) là một tôn giáo Abraham[gc 1][1][2][3][4] độc thần[5][6][7][8][9][10][11][12][13], đặt nền tảng vào cuộc đời, con người và những lời giáo huấn của Jesus thành Nazareth (như trong Tân Ước).[14][15][16] Đây là tôn giáo lớn nhất thế giới[17][18] với khoảng 2,6 tỷ tín đồ (chiếm đa số ở 157 quốc gia và vùng lãnh thổ[19]).[20] Kitô hữu (Cơ Đốc nhân) tin rằng Giêsu là con của Thiên Chúa và là Đấng Messiah của người Do Thái như đã được tiên báo trong Cựu Ước (còn gọi là kinh thánh Do Thái hoặc Tanakh), rằng Ngài đã chịu đau khổ, bị đóng đinh, xuống địa ngục và sống lại từ cõi chết, cứu rỗi nhân loại. Kitô giáo đóng một vai trò quan trọng trong nền văn hóa phương Tây.[21][22][23][24][25][26]

Kitô giáo ban đầu là một giáo phái Do Thái[27][28][29][30][31][32]Đền thờ thứ hai trong Do Thái giáo thời Hy Lạp đô hộ vào thế kỷ thứ nhất ở tỉnh Judea của La Mã. Các sứ đồ của Jesus và những người theo họ lan rộng khắp Levant, Châu Âu, Tiểu Á, Lưỡng Hà, Nam Kavkaz, Carthage cổ đại, Ai CậpEthiopia, bất chấp sự ngược đãi đáng kể ban đầu. Nó nhanh chóng thu hút những người ngoại đạo kính sợ Chúa, điều này dẫn đến việc xa rời phong tục của người Do Thái, và sau sự sụp đổ của Jerusalem, Kitô giáo dần dần tách khỏi Do Thái giáo.

Trải qua hai thiên niên kỷ, các bất đồng về thần họcgiáo hội học đã hình thành các hệ phái Kitô giáo khác nhau. Cảnh giáoChính thống giáo Cổ Đông phương tách khỏi Đại Giáo hội sau Công đồng Ephesus (431) và Công đồng Chalcedon (451). Công giáo Tây phươngChính thống giáo Đông phương cắt đứt hiệp thông với nhau trong cuộc Ly giáo Đông–Tây năm 1054. Kháng Cách (thường gọi là Tin Lành), không phải là một hệ phái đơn nhất nhưng là thuật từ nhóm hợp, phát sinh từ cuộc Cải cách Kháng nghị thế kỷ 16.

Từ nguyên[sửa | sửa mã nguồn]

Từ nguyên của "Kitô" là Χριστός (Khristos) trong tiếng Hy Lạp, nghĩa là "Đấng được xức dầu", dịch theo danh hiệu Messiah trong tiếng Hebrew. Trong tiếng Việt, người Công giáo dùng từ "Kitô" để gọi danh hiệu này của Giêsu, trong khi người Tin Lành thường dùng từ "Christ". Bên cạnh từ "Kitô" phiên âm qua tiếng Bồ Đào Nha được sử dụng bởi tín hữu Công giáo, còn có từ "Cơ Đốc" xuất phát từ chữ Nho (基督) và thường được tín hữu Tin Lành sử dụng. Ngoài ra, một số người cũng dùng cách gọi Thiên Chúa giáo để chỉ Công giáo nói riêng và Kitô giáo nói chung.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn gốc đức tin[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Kinh thánh, Thiên Chúa là đấng đã sáng tạo ra vũ trụ, muôn loài trong 6 ngày và ngày thứ 7 Ngài nghỉ ngơi. Ông Adam và bà Eva không nghe lời Thiên Chúa đã ăn trái của "cây biết điều thiện điều ác" (trái cấm)[33] nên bị Thiên Chúa đuổi khỏi Vườn địa đàng.[34] Hai người này truyền tội lỗi (gọi là tội tổ tông, nguyên tội) cho con cháu là loài người. Bởi loài người mang tội, Thiên Chúa đã giáng sinh làm người và chịu khổ hình để loài người được hòa giải với Thiên Chúa.

Chúa Ki-tô vác thập tự giá, El Greco, 1580

Vậy tâm điểm việc cứu rỗi của Kitô giáo là Giêsu, do đó trọng tâm của cuộc sống Kitô hữu là niềm xác tin rằng Giêsu là Con Thiên Chúa giáng trần, là Đấng Messiah.[35][36] Danh hiệu "Messiah" có nguồn gốc từ tiếng Do Thái מָשִׁיחַ‎, māšiáħ, nghĩa là "đấng được xức dầu", chuyển ngữ sang tiếng Hy Lạp là Χριστός, Khristos.[37]

Kitô hữu tin rằng, là Đấng Messiah, Giêsu được Thiên Chúa xức dầu để tể trị và cứu rỗi nhân loại, Giêsu đến để làm ứng nghiệm lời tiên tri về Đấng Messiah trong Cựu Ước. Trọng tâm của đức tin Kitô giáo là qua sự chết và phục sinh của Giêsu, con người tội lỗi được phục hòa với Thiên Chúa, nhờ đó mà nhận lãnh sự cứu rỗi và lời hứa được hưởng sự sống đời đời.[38][39]

Trong khi những tranh luận thần học về bản thể của Giêsu vẫn đang tiếp diễn, thì phần lớn Kitô hữu tin rằng Giêsu là Thiên Chúa nhập thể, Giêsu "là Thiên Chúa và là con người" trong ý nghĩa trọn vẹn của cả hai bản tính. Vì Giêsu là người nên phải trải qua những đau khổ và bị cám dỗ như con người bình thường, nhưng không hề phạm tội. Vì là Thiên Chúa, Giêsu đánh bại quyền lực sự chết và sống lại từ kẻ chết. Theo Kinh Thánh, Thiên Chúa đã cho Giêsu sống lại từ cõi chết,[40] đặt Giêsu ngồi bên hữu của Chúa Cha[41] và Ngài sẽ trở lại[42] để làm ứng nghiệm lời tiên tri về Đấng Messiah như sự phục sinh, sự phán xét sau cùng và sự thiết lập Vương quốc của Thiên Chúa.

Kitô giáo được biết đến từ thế kỷ thứ nhất khi các môn đồ của Giêsu được gọi là Kitô hữu tại thành Antiochia xứ Syria (nay thuộc Thổ Nhĩ Kỳ), nơi họ đến để lánh nạn và định cư sau những cuộc bức hại đầu tiên tại xứ Judea. Nền thần học của Kitô giáo sơ khai được thành lập và truyền bá bởi sứ đồ Phaolô và các sứ đồ khác.

Theo Tân Ước, Giêsu tự xưng mình là Đấng Messiah mà dân Do Thái vẫn hằng mong đợi, nhưng đã bị nhóm lãnh đạo Tôn giáo và Dân sự cũng như dân chúng chối từ và bị xem như là chống lại Đền thờ và luật lệ thời đó.[43][44][45][46] Ngài cũng bị buộc tội phạm thượng do dám gọi Thiên Chúa là Cha và bị kết án tử hình bởi chính quyền La Mã vào năm 30. Tuy nhiên Giêsu được Pontius Pilatus, tổng trấn người La Mã, gọi là "Vua của dân Do Thái".

Theo các sách Phúc âm, người La Mã buộc tội Giêsu vì muốn xoa dịu sự bất bình của giới cầm quyền Do Thái, nhưng một số học giả cho rằng đó là cách mà Đế chế La Mã trừng phạt những người chống đối họ. Kitô hữu tin rằng Cựu Ước đã tiên báo cái chết và sự sỉ nhục mà Giêsu phải chịu như đã chép trong Tân Ước. Sách Isaiah ngụ ý rằng Giêsu bị vả, nhổ, đấm vào mặt[47], bị đánh bằng roi[48] cũng như bị sỉ nhục.

Kitô hữu xem sự phục sinh của Giêsu là nền tảng của đức tin và là biến cố quan trọng nhất trong lịch sử nhân loại.[49] Theo Tân Ước, Giêsu là tâm điểm của Kitô giáo, bị đóng đinh trên thập tự giá, chết và mai táng trong mộ, đến ngày thứ ba thì sống lại.[50] Theo ký thuật của Tân Ước, sau khi sống lại, Giêsu, trong những lần khác nhau tại những địa điểm khác nhau, đã đến gặp mười một sứ đồ và các môn đồ, trong đó có lần xuất hiện trước sự chứng kiến của "hơn năm trăm người",[51] sau đó thì về trời.

Các sứ đồ của Giêsu là nhân chứng về cuộc đời, lời giảng và sự sống lại của Giêsu. Ngoài ra còn có nhiều môn đồ (đến 70 người) trong đó có James, Mark, Luca, Maria Madalena,... những người này theo Giêsu trong các cuộc hành trình và họ chứng kiến khi Giêsu giảng dạy và làm nhiều phép lạ. Sau khi Giêsu bị đóng đinh, các sứ đồ và các môn đệ khác công bố rằng Giêsu đã sống lại từ cõi chết và họ khởi sự rao giảng thông điệp mới. Các sứ đồ và môn đệ này đã viết các sách Phúc âm và các Thư tín.

Sứ đồ Phaolô viết thư tín.

Trong số 27 sách của Tân Ước, nhiều quyển được cho là viết bởi Phaolô. Ông cũng là tác giả của hầu hết mười bốn thư tín[52][53][54] và một số truyền thuyết cho rằng ông cũng là tác giả của Thư gửi tín hữu Do Thái[55]. Phúc âm Luca và sách Sách Công vụ Tông đồ được cho là viết bởi Luca[56][57], người chịu ảnh hưởng trực tiếp của Phaolô. Phaolô là môn đồ của Gamaliel, một nhân vật có thanh thế trong toà công luận. Phaolô được xem như là nhà truyền giáo quan trọng nhất rao giảng thông điệp Kitô cho thế giới bên ngoài.

Hội thánh sơ khai[sửa | sửa mã nguồn]

Kitô giáo Do Thái[sửa | sửa mã nguồn]

Vào thuở Kitô giáo sơ khởi, một tín hữu có thể vẽ một cung trên đất khi gặp một người khác, nếu chia sẻ cùng niềm tin, người này sẽ vẽ tiếp một cung nữa để hoàn chỉnh hình con cá (Ichthys), một biểu trưng của Kitô giáo.

Kitô giáo đã phát triển trong thế kỷ thứ nhất vốn là Do Thái giáo Đền thờ thứ hai đã bị Hy Lạp hóa.[58][59][60] Kitô giáo Do Thái nhanh chóng thu hút những người ngoại bang kính sợ Đức Chúa Trời, đặt ra vấn đề cho quan điểm tôn giáo Do Thái của nó, vốn nhấn mạnh vào việc tuân thủ chặt chẽ các điều răn của người Do Thái. Sứ đồ Phao-lô đã giải quyết vấn đề này bằng cách nhấn mạnh rằng sự cứu rỗi bởi đức tin nơi Giêsu, và cái chết và sự phục sinh của Ngài.[61] Việc ông rời bỏ phong tục Do Thái đã dẫn đến việc thành lập Kitô giáo như một tôn giáo độc lập.[62][63][64]

Các thư tín, Phúc Âm trong Tân Ước chứa đựng các tín điều và thánh ca sơ khai, cũng như các tường thuật về Cuộc Khổ nạn, ngôi mộ trống và Phục sinh.[65] Kitô giáo ban đầu lan rộng đến các nhóm tín đồ trong số các dân tộc nói tiếng Aramaic dọc theo bờ biển Địa Trung Hải của Đế chế La Mã và xa hơn nữa, vào cả Đế chế ParthiaĐế chế Sasanian sau này.[66]

Kitô giáo tiền Nicaea[sửa | sửa mã nguồn]

Kitô giáo tiền Nicaea là thời kỳ sau Kitô giáo Do Thái cho đến Công đồng Nicaea I vào năm 325. Vào đầu thời kỳ tiền Nicaea, đức tin Kitô giáo đã lan rộng khắp Tây Âu và Lưu vực Địa Trung Hải, đến Bắc Phi. Một cấu trúc Giáo hội chính thức hơn đã phát triển từ các cộng đồng sơ khai, và nhiều học thuyết đã phát triển.

Những bức thư của Sứ đồ Phao-lô gửi cho các cộng đồng sơ khai ở Rome, Hy Lạp và Tiểu Á đã được lưu hành vào cuối thế kỷ thứ nhất.[67] Đến đầu thế kỷ thứ 3, đã tồn tại một tập hợp các tác phẩm Kitô giáo ban đầu tương tự như Tân Ước hiện tại[68], mặc dù vẫn còn những tranh cãi về tính chính tắc. Đến thế kỷ thứ 4, đã tồn tại sự nhất trí trong Giáo hội Latin liên quan đến các văn bản kinh điển được đưa vào quy điển Tân Ước[69], và đến thế kỷ thứ 5, các Giáo hội Đông phương, với một số ngoại lệ, đã chấp nhận Khải Huyền và do đó đã hòa hợp với nhau về vấn đề kinh điển.[70]

Chấp nhận ở Đế Chế La Mã[sửa | sửa mã nguồn]

Tượng Constantinus Đại đế tại York, Anh.

Vua Tiridates III đã biến Kitô giáo trở thành quốc giáoArmenia từ năm 301 đến năm 314.[71][72][73][74][75][76][77][78] Constantine I đã tiếp xúc với Kitô giáo khi còn trẻ, và trong suốt cuộc đời, sự ủng hộ của ông đối với tôn giáo ngày càng lớn, đỉnh điểm là lễ rửa tội trên giường bệnh của ông.[79] Trong triều đại của ông, cuộc đàn áp Kitô hữu do nhà nước hậu thuẫn đã chấm dứt với Sắc lệnh khoan dung năm 311 và Sắc lệnh Milan năm 313. Chịu ảnh hưởng của cố vấn Mardonius, cháu trai của Constantine là Julian cố gắng đàn áp Kitô giáo nhưng không thành.[80]

Vào ngày 27 tháng 2 năm 380, Theodosius I, GratianValentinian II đã thành lập Công đồng Nicaea I với tư cách là Giáo hội của Đế chế La Mã.[81] Constantine cũng có công trong việc triệu tập Công đồng Nicaea I vào năm 325, nhằm tìm cách giải quyết thuyết Arian và xây dựng Tín điều Nicene[82], vẫn được sử dụng trong Công giáo, Chính thống giáo Đông phương, Lutheran, Anh giáo và nhiều giáo hội Tin lành khác.[83][84]

Kitô giáo thời trung cổ[sửa | sửa mã nguồn]

Với sự suy tàn và sụp đổ của Đế chế La Mãphương Tây, đánh dấu sự bắt đầu của thời kỳ trung cổ, giáo hoàng trở thành một tay chơi chính trị, lần đầu tiên có thể thấy được trong hoạt động ngoại giao của Giáo hoàng Leo với người Hungngười Vandal.[85] Giáo hội cũng bước vào một thời gian dài hoạt động truyền giáo và mở rộng giữa các bộ lạc khác nhau. Trong khi những người theo thuyết Arian thiết lập án tử hình đối với những người ngoại đạo cũng như người Hungary, người Đức,[85] người Celtic, người Baltic và một số dân tộc Slavơ.

Khoảng năm 500, Thánh Benedict đã đề ra Quy luật Đan viện, thiết lập một hệ thống các quy định cho việc thành lập và điều hành các đan viện.[85] Chủ nghĩa tu viện đã trở thành một thế lực mạnh mẽ trên khắp châu Âu,[85] và đã tạo ra nhiều trung tâm học tập ban đầu, nổi tiếng nhất là ở Ireland, ScotlandGaul, góp phần vào thời Phục hưng Carolingian vào thế kỷ thứ 9.

Thời Trung cổ đã mang lại những thay đổi lớn trong giáo hội. Giáo hoàng Grêgôriô I đã cải cách mạnh mẽ cơ cấu và cách điều hành giáo hội.[86] Vào đầu thế kỷ thứ 8, iconoclasm đã trở thành một vấn đề gây chia rẽ, khi nó được các hoàng đế Byzantine bảo trợ. Công đồng Nicaea II cuối cùng đã tuyên bố ủng hộ các biểu tượng.[87] Vào đầu thế kỷ thứ 10, tu viện Kitô giáo phương Tây tiếp tục được làm mới nhờ sự lãnh đạo của tu viện vĩ đại Benedictine ở Cluny.[88]

Ở phương Tây, từ thế kỷ 11 trở đi, một số trường nhà thờ cũ đã trở thành trường đại học. Trước đó, giáo dục đại học là lĩnh vực của các trường thánh đường Kitô giáo hoặc các trường tu viện, do các tu sĩ nam nữ lãnh đạo. Những trường đại học mới này đã mở rộng chương trình giảng dạy để bao gồm các chương trình học thuật dành cho giáo sĩ, luật sư, công chức và bác sĩ.[89] Trường đại học thường được coi là một tổ chức có nguồn gốc từ Kitô giáo thời Trung cổ.[90][91][92]

Cuộc chinh phục Constantinople của Thập tự quân năm 1204

Chủ nghĩa dân tộc Kitô giáo nổi lên trong thời đại này, trong đó các Kitô hữu cảm thấy thôi thúc phải phục hồi những vùng đất mà Kitô giáo đã từng phát triển trong lịch sử.[93] Từ năm 1095 dưới triều đại giáo hoàng Urban II, cuộc Thập tự chinh thứ nhất đã được phát động.[94] Đây là một loạt các chiến dịch quân sự ở Thánh địa và các nơi khác, được khởi xướng để đáp lại lời cầu xin từ Hoàng đế Byzantine Alexios I về sự trợ giúp chống lại sự bành trướng của người Thổ Nhĩ Kỳ (Ottoman). Các cuộc Thập tự chinh cuối cùng đã thất bại trong việc ngăn chặn sự xâm lược của người Hồi giáo và thậm chí còn góp phần gây ra sự thù địch của Kitô giáo với việc cướp phá Constantinopolis trong cuộc Thập tự chinh thứ tư.[95]

Kitô giáo đã trải qua xung đột nội bộ giữa thế kỷ thứ 7 và thế kỷ 13 dẫn đến sự ly giáo Đông–Tây giữa nhánh Giáo hội Công giáo và nhánh Chính thống giáo Đông phương. Hai bên bất đồng về một số vấn đề hành chính, phụng vụ và giáo lý, nổi bật nhất là sự phản đối của Chính thống giáo Đông phương đối với uy quyền tối cao của Giáo hoàng.[96][97] Công đồng Lyon IICông đồng Florence đã cố gắng hợp nhất hai giáo hội, nhưng trong cả hai trường hợp, Chính thống giáo Đông phương đều từ chối thực hiện các quyết định, và hai giáo hội chính vẫn còn ly giáo cho đến ngày nay.

Các cuộc cải cách Kitô giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Martin Luther năm 1529, tranh của Lucas Cranach
Cải cách Kháng nghị
95 luận đề
Kháng Cách

Thời kỳ Phục hưng đã mang lại mối quan tâm mới đối với việc học cổ điển. Martin Luther đã công bố 95 luận đề chống lại việc buôn bán ân xá.[98] Các bản in nhanh chóng lan rộng khắp châu Âu. Vào năm 1521, Sắc lệnh về Giun (Edict of Worms) đất đã lên án và rút phép thông công cho Luther và những người theo ông, dẫn đến sự chia rẽ của Kitô giáo phương Tây thành nhiều nhánh.[98] Các nhà cải cách khác như Zwingli, Oecolampadius, Calvin, Knox và Arminius còn chỉ trích việc giảng dạy và thờ phượng của Công giáo. Những thách thức này đã phát triển thành phong trào gọi là Tin Lành, phủ nhận quyền tối cao của giáo hoàng, vai trò của truyền thống, bảy bí tích, và các học thuyết và thực hành khác.[98]

Phong trào Cải cách ở Anh bắt đầu vào năm 1534, khi Vua Henry VIII tự tuyên bố là người đứng đầu Giáo hội Anh. Bắt đầu từ năm 1536, các tu viện trên khắp nước Anh, xứ WalesIreland đã bị giải thể.[99]

Thomas Müntzer, Andreas Karlstadt và các nhà thần học khác cho rằng cả Giáo hội Công giáo và những lời thú nhận của cải cách Magisterial đều là tham nhũng. Hoạt động của họ đã mang lại cuộc Cải cách Cấp tiến, sự ra đời của nhiều Trùng tẩy phái khác nhau.

Một phần để đáp lại Cải cách Tin lành, Giáo hội Công giáo đã tham gia vào một quá trình cải cách và đổi mới đáng kể, được gọi là Cải cách Công giáo.[100] Công đồng Trent đã làm sáng tỏ và tái khẳng định giáo lý Công giáo. Trong những thế kỷ tiếp theo, sự cạnh tranh giữa Công giáo và Tin lành trở nên phức tạp sâu sắc với các cuộc đấu tranh chính trị giữa các quốc gia châu Âu.[101] Khắp châu Âu, sự chia rẽ do cuộc cải cách gây ra đã dẫn đến sự bùng nổ bạo lực tôn giáo và việc thành lập các giáo hội nhà nước riêng biệt ở châu Âu. Giáo hội Luther lan rộng vào các vùng phía bắc, trung tâm và phía đông của Đức, LivoniaScandinavia ngày nay. Anh giáo được thành lập ở Anh vào năm 1534. Chủ nghĩa Calvin và các biến thể của nó, chẳng hạn như Chủ nghĩa Trưởng lão, đã được đem đến ở Scotland, Hà Lan, Hungary, Thụy SĩPháp. Chủ nghĩa Arminian đã thu hút được nhiều người theo dõi ở Hà Lan và Frisia. Cuối cùng, những khác biệt này đã dẫn đến sự bùng nổ của các cuộc xung đột trong đó tôn giáo đóng vai trò then chốt. Chiến tranh Ba mươi năm, Nội chiến AnhChiến tranh Tôn giáo Pháp là những ví dụ nổi bật. Những sự kiện này đã làm gia tăng cuộc tranh luận của các Kitô hữu về bách hại và khoan dung.[102]

Kitô giáo hiện đại[sửa | sửa mã nguồn]

Kitô giáo thế kỷ XX[sửa | sửa mã nguồn]

Một số Kitô hữu nổi tiếng

Với Kỳ tích châu Âu, Thời kỳ Phục Hưng và cuộc cách mạng khoa học mang lại những thay đổi xã hội to lớn, Kitô giáo phải đối mặt với nhiều hình thức hoài nghi và với một số hệ tư tưởng chính trị hiện đại, chẳng hạn như các phiên bản của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tự do.[103] Các sự kiện trải dài từ chủ nghĩa chống giáo sĩ đơn thuần cho đến các vụ bạo lực chống lại Kitô giáo, chẳng hạn trong Cách mạng Pháp, Nội chiến Tây Ban Nha, và một số phong trào Mác-xít, đặc biệt là Cách mạng Tháng Mười Nga và cuộc đàn áp Kitô hữu ở Liên Xô. dưới chủ nghĩa vô thần nhà nước.[104][105][106][107]

Những thay đổi trong Kitô giáo trên toàn thế giới trong thế kỷ XX là rất lớn, kể từ năm 1900, Kitô giáo đã lan rộng nhanh chóng ở nam bán cầu và các nước thuộc thế giới thứ ba.[108] Cuối thế kỷ XX, phương Tây không còn là người mang tiêu chuẩn chính của Kitô giáo.

Kitô giáo ngày nay[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày nay, Kitô giáo là tôn giáo có đông tín hữu nhất thế giới[17][18], ước tính khoảng 2,6 tỷ người xưng Kitô hữu,[20] chia làm nhiều nhánh, bao gồm hơn 1,1 tỉ người Công giáo,[109] khoảng 800 triệu người theo các hệ phái Kháng Cách (trong đó có 85 triệu tín hữu Anh giáo), 300 triệu người Chính thống giáo, và những giáo hội "ngoại vi" (Nhân chứng Jehovah, Giáo hội Cơ Đốc Phục lâm An thất nhật, Giáo hội Mormon...) có hơn 40 triệu tín hữu. Các giáo phái này tự nhận mình thuộc Kitô giáo nhưng họ không được công nhận bởi cộng đồng Kitô giáo bởi các học thuyết không chính thống của họ.

Tuy là tôn giáo lớn nhất thế giới[17][18] và đang duy trì nhiều nguồn lực cho việc truyền giáo, mức độ tăng trưởng của Kitô giáo chỉ xấp xỉ mức chung của thế giới. Theo dự đoán, vào nửa sau thế kỷ 21, số lượng dân số Hồi giáo sẽ vượt qua Kitô giáo để trở thành tôn giáo lớn nhất thế giới.[110] Tuy nhiên nghiên cứu được thực hiện bởi Đại học St. Mary ước tính khoảng 10,2 triệu người Hồi giáo cải đạo sang Kitô giáo vào năm 2015.[111][112]

Kitô giáo theo tỷ lệ dân số.

Tại Hoa Kỳchâu Âu, trào lưu thần học tự do góp phần phát triển tình trạng thế tục hoá trong toàn xã hội. Nhiều Kitô hữu ngưng thực hành các bổn phận tôn giáo[113], mỗi năm chỉ đến nhà thờ vài lần vào những dịp lễ lớn, hôn lễ hoặc tang lễ. Nhiều người trong số họ lớn lên trong những gia đình mà các giá trị Kitô giáo không còn được xem trọng.[114] Một mặt họ tiếp tục buộc mình vào các giá trị cổ truyền vì lý do bản sắc, mặt khác ảnh hưởng của chủ nghĩa thế tục phương Tây và sự sao lãng do nhịp sống hiện đại bứt giật họ ra khỏi ảnh hưởng còn sót lại của Kitô giáo truyền thống.[113][114] Tại các quốc gia Kitô giáo, nhiều người trở nên bất khả tri[115] hoặc có thái độ dửng dưng tôn giáo. Dân số Kitô giáo không giảm ở Brazil, miền nam Hoa Kỳ,[116] và tỉnh Alberta, Canada,[117] nhưng tỷ lệ phần trăm đang giảm. Kể từ những năm 90, tỷ lệ người theo Kitô giáo đã ổn định hoặc thậm chí tăng lên ở các nước TrungĐông Âu.[118] Tại Đông ÂuNga, đã và đang diễn ra quá trình phấn hưng. Sau nhiều thập kỷ hưng thịnh của thuyết vô thần, nhiều người bắt đầu quan tâm đến Kitô giáo[119] cũng như các tôn giáo khác.

Tại TrungNam Mỹ[120], Châu Phi[121], các giáo phái Phúc âm (Evangelical) đang tăng trưởng mạnh. Tình trạng tương tự cũng đang xảy ra tại một số nước châu Á và các nước đang phát triển, thậm chí là cả thế giới.[122][123][124][125][126][127]

Ngày nay, một số quốc gia chính thức xác định mình là quốc gia Kitô giáo (hoặc có giáo hội quốc gia). Các quốc gia này bao gồm Argentina, Armenia, Costa Rica, El Salvador,[128] Đan Mạch (bao gồm GreenlandFaroes[129])[130], Anh[131], Georgia[132], Hy Lạp[133][134], Hungary[135], Iceland[136], Liechtenstein[137], Malta[138][139], Monaco[140], Na Uy[141], Samoa[142], Serbia[143], Tonga[144][145], Tuvalu[146], Thành Vatican[147], và Zambia[148].

Giáo lý[sửa | sửa mã nguồn]

Kitô hữu xem Kitô giáo là sự kế thừa và hoàn chỉnh của Do Thái giáo.[149][150] Kitô giáo mang theo mình nhiều điều từ thần học và lễ nghi của Do Thái giáo như thuyết độc thần, niềm tin vào Đấng Messiah cùng với một vài hình thức thờ phượng như cầu nguyện, xướng đọc Kinh Thánh, chức vị tư tế (dù hầu hết người Kháng Cách tin rằng chức vị tư tế được ban cho tất cả tín hữu), và ý tưởng cho rằng sự thờ phượng trên đất là "hình bóng" cho sự thờ phượng trên thiên đàng.

Những xác tín căn cốt của Kitô giáo tập chú vào sự nhập thể làm người, sự đền tội cho nhân loại, sự chết trên thập tự giá và sự sống lại của Giêsu để cứu chuộc nhân loại khỏi tội lỗi và sự chết.[151] Nhiều Kitô hữu tin rằng sự tuyển chọn mà Thiên Chúa dành cho dân Do Thái được ứng nghiệm trọn vẹn qua Giêsu: người Do Thái nào không chấp nhận Giêsu không còn là người được chọn vì họ đã khước từ Ngài như là Đấng Messiah và Con Thiên Chúa. Quan điểm này đang được làm giảm nhẹ hay ngay cả loại trừ tại một số giáo hội nơi người Do Thái được thừa nhận là có một địa vị đặc biệt vì cớ giao ước của Thiên Chúa dành cho dân tộc này.

Bài giảng trên núi, tranh của Carl Heinrich Bloch, thế kỷ 19.

Trọng tâm của Kitô giáo đặt vào yếu tố Thiên Chúa sai Con Một của mình đến thế gian để cứu nhân loại, tạo ra sự khác biệt lớn lao giữa Kitô giáo và các tôn giáo khác, vì các tôn giáo ấy thường nhấn mạnh đến vai trò của con người tự nỗ lực cho sự cứu độ của bản thân mình.

Nền thần học được xác lập vững chắc từ ban đầu và được chấp nhận rộng rãi giữa ba nhánh chính của Kitô giáo – Công giáo, Chính thống giáoKháng Cách – khẳng định những xác tín căn bản của Kitô giáo bao gồm:

  • Thiên Chúa là Ba Ngôi hằng có đời đời, là thực thể vĩnh cửu duy nhất, hiện hữu trong ba ngôi vị: Chúa Cha, Chúa Con (Ngôi Lời trở thành xác thịt là Giêsu Kitô) và Chúa Thánh Linh.[152]
  • Giêsu vừa là Thiên Chúa vừa là người, cả hai bản tính đều trọn vẹn trong Ngài.
  • Maria (Ma-ri-a hay Ma-ri), mẹ của Giêsu, người cưu mang và sinh hạ Con Thiên Chúa, Đấng vô hạn và vĩnh cửu đã được hình thành trong thân thể của bà bởi quyền năng siêu nhiên của Chúa Thánh Linh. Ngài nhận lãnh từ Maria trí tuệ và ý chí con người và mọi điều khác như một đứa trẻ bình thường nhận lãnh từ mẹ mình.
  • Giêsu là Đấng Messiah mà người Do Thái vẫn hằng mong đợi, là Đấng kế thừa ngai Vua David. Ngài ngự bên hữu Chúa Cha để trị vì với tất cả quyền bính vĩnh cửu.[153] Ngài là niềm hi vọng, là Đấng biện hộ và là Đấng phán xét toàn thể nhân loại. Hội thánh có thẩm quyền và bổn phận rao giảng Phúc âm trên khắp thế giới.
  • Giêsu không bao giờ phạm tội. Qua cái chết và sự sống lại của Ngài, tín hữu được tha thứ tội lỗi và được hoà giải với Thiên Chúa. Tín hữu chịu lễ báp têm (rửa tội) như là biểu tượng cho sự cùng chết và cùng sống lại với Chúa Kitô để nhận lãnh sự sống mới. Qua đức tin, họ nhận lãnh lời hứa sẽ sống lại từ kẻ chết để được sống đời đời. Trong danh của Chúa Kitô, Chúa Thánh Linh ngự vào lòng tín hữu, ban cho họ hi vọng, dẫn họ vào sự hiểu biết chân xác về Thiên Chúa và ý chỉ của Ngài cũng như giúp họ tăng trưởng trong đời sống thánh khiết.
  • Giêsu sẽ trở lại[154] để phán xét toàn thể nhân loại, để tiếp rước những người tin Ngài vào cuộc sống vĩnh cửu kề cận Thiên Chúa.
  • Nhiều Kitô hữu xem Kinh Thánh là "lời của Thiên Chúa".[155][156][157] Thuật từ này cũng có thể đề cập đến Giêsu là "Ngôi Lời của Thiên Chúa". Nhiều tín hữu cũng nhìn nhận Kinh Thánh là quyển sách có thẩm quyền, được soi dẫn bởi Chúa Thánh Linh nhưng được viết bởi con người. Vì các quan điểm khác biệt về sự linh hứng của Kinh Thánh mà nhiều Kitô hữu bất đồng với nhau về mức độ chân xác cũng như về phương cách giải thích Kinh Thánh.

Đức tin Kitô giáo được đúc kết trong các tín điều, quan trọng nhất là Tín điều Các Sứ đồTín điều Nicaea. Các bản tín điều này được hình thành trong vòng vài thế kỷ sau công nguyên nhằm phản bác các học thuyết dị giáo. Dù vẫn còn tranh luận về vài điểm khác nhau của các bản tín điều, chúng được dùng rộng rãi để bày tỏ các xác tín căn bản của nhiều Kitô hữu.

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyện đường của Exeter College, Viện Đại học Oxford.
Kitô giáo đóng vai trò nổi bật trong việc định hình nền văn minh phương Tây.[158][159][160]

Văn hóa phương Tây trải qua lịch sử đã hầu như tương đương với văn hóa Kitô giáo. Các ý niệm về "châu Âu" và "Thế giới phương Tây" được liên hệ hết sức mật thiết với "Kitô giáo và Thế giới Kitô giáo", nhiều người thậm chí còn coi Kitô giáo là mối liên kết tạo nên một căn tính Âu châu thống nhất.[161] Mặc dù văn hóa phương Tây trong thời kỳ đầu bao gồm một số tôn giáo đa thần dưới các đế quốc Hy LạpLa Mã nhưng khi chính quyền trung ương La Mã suy yếu, vị thế của Giáo hội Công giáo là định chế kiên vững duy nhất tại châu Âu.[162] Trong tình trạng bất ổn khi đế quốc dần suy tàn, các tu viện xuất hiện kịp thời đã bảo tồn ngôn ngữ viết và một phần truyền thống cổ điển.[163] Cho tới Thời kỳ Khai sáng,[164] văn hóa Kitô giáo đã dẫn dắt triết học, văn học, nghệ thuật, âm nhạckhoa học.[162][165] Cách riêng, Kitô giáo sau này đã phát triển các chuyên ngành tương ứng của mình.

Kitô giáo có một ảnh hưởng quan trọng lên giáo dục, khoa học và y học khi mà giáo hội đã tạo dựng nên các nền tảng của hệ thống giáo dục phương Tây,[166] cùng với đó Kitô giáo là nhà bảo trợ cho việc hình thành các đại học trong thế giới phương Tây, với việc viện đại học được xem là một thể chế có nguồn gốc Kitô giáo thời Trung Cổ.[167][168] Xuyên suốt dòng lịch sử, nhiều giáo sĩ Công giáo, đặc biệt các tu sĩ Dòng Tên,[169][170][171] hoạt động trong lĩnh vực khoa học và có nhiều đóng góp quan trọng cho sự phát triển của khoa học.[172][173] Các hệ phái Tin Lành cũng có tác động lên khoa học. Theo Luận thuyết Merton, có mối quan hệ tích cực giữa Thanh giáo Anh và phong trào Sùng tín Đức với khoa học thực nghiệm. Ảnh hưởng của Kitô giáo lên nền văn minh có thể kể đến phúc lợi xã hội,[174] thành lập các bệnh viện,[175] kinh tế (như đạo đức lao động Tin Lành),[176][177] chính trị,[178] kiến trúc,[179] văn học[180] và đời sống gia đình.[181]

Các Kitô hữu Đông phương, nhất là tín hữu Cảnh giáo, đã đóng góp cho nền văn minh Hồi giáo Ả Rập dưới các triều đại Nhà UmmayadNhà Abbas với việc dịch tác phẩm của các triết gia Hy Lạp cổ đại sang tiếng Syriac và sau đó là tiếng Ả Rập.[182][183][184] Họ cũng là những nhân vật ưu tú trong triết học, khoa học, thần họcy học.[185][186]

Các Kitô hữu có rất nhiều đóng góp trong phạm vi rộng lớn và đa dạng các lĩnh vực, gồm khoa học, nghệ thuật, chính trị, văn học và kinh doanh.[187] Theo 100 Years of Nobel Prizes, xem xét các giải Nobel được trao trong giai đoạn từ 1901 tới 2000 cho thấy rằng có 65,4% Khôi nguyên Nobel xác định tôn giáo của mình là Kitô giáo thuộc các hệ phái.[188]

Hậu Kitô giáo là thuật ngữ dùng để chỉ sự suy giảm của Kitô giáo trong thế kỷ 20 và 21, đặc biệt là tại châu Âu, Canada, Úc và ở mức độ ít hơn tại các nước Viễn Nam của châu Mỹ, có liên quan tới thuật ngữ chủ nghĩa hậu hiện đại. Nó đề cập đến việc Kitô giáo mất vị trí độc tôn trong các giá trị và thế giới quan so với các xã hội Kitô giáo trước đây.

Các Kitô hữu văn hóa là những người thế tục có di sản Kitô giáo, có thể không tin theo các giáo lý nhưng còn duy trì thiện cảm với văn hóa đại chúng, nghệ thuậtâm nhạc Kitô giáo nên vẫn còn mối liên hệ. Thuật ngữ này còn dùng trong việc phân biệt các nhóm chính trị trong khu vực đa tôn giáo.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Abraham là tổ phụ của người Do Tháingười Ả Rập, hai tôn giáo còn lại là Do Thái giáoHồi giáo.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Fowler, Jeaneane D. World Religions:An Introduction for Students. Sussex Academic Press (1997), p. 131. ISBN 1-898723-48-6.
  2. ^ McManners, John. Oxford Illustrated History of Christianity. Oxford University Press (1990), p. 301–303.
  3. ^ J.Z.Smith, p. 276.
  4. ^ Anidjar, p. 3.
  5. ^ “CATHOLIC ENCYCLOPEDIA: Monotheism”. www.newadvent.org. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2023.
  6. ^ William F. Albright, From the Stone Age to Christianity
  7. ^ “Mythology and Religion”. ThoughtCo (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2023.
  8. ^ Jonathan Kirsch, God Against the Gods
  9. ^ Linda Woodhead, An Introduction to Christianity
  10. ^ “monotheism | Infoplease”. www.infoplease.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2023.
  11. ^ “monotheism. The New Dictionary of Cultural Literacy, Third Edition. 2002”. web.archive.org. 12 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2023.
  12. ^ New Dictionary of Theology, Paul Lưu trữ 2018-07-04 tại Wayback Machine, p. 496-99
  13. ^ David Vincent Meconi, "Pagan Monotheism in Late Antiquity" trong Journal of Early Christian Studies, p. 111–12
  14. ^ BBC, BBC - Religion & Ethics - Christianity
  15. ^ Hinnells, The Routledge Companion to the Study of Religion, p. 441.
  16. ^ Zoll, Rachel (19 tháng 12 năm 2011). “Study: Christian population shifts from Europe”. Associated Press. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2012.
  17. ^ a b c “World's largest religion by population is still Christianity”. Pew Research Center (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2020.
  18. ^ a b c Jan Pelikan, Jaroslav (13 tháng 8 năm 2022). “Christianity”. Encyclopædia Britannica. It has become the largest of the world's religions and, geographically, the most widely diffused of all faiths.
  19. ^ Analysis (19 tháng 12 năm 2011). “Global religious landscape: Christians” (PDF). Pewforum.org. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 23 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2012.
  20. ^ a b “World population 2023 | Population clock live”. countrymeters.info. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2023.
  21. ^ Orlandis, Jose, A Short History of the Catholic Church. Scepter Publishers (1993) ISBN 1-85182-125-2
  22. ^ Religions in Global Society. p. 146, Peter Beyer, 2006
  23. ^ Cambridge University Historical Series, An Essay on Western Civilization in Its Economic Aspects, p. 40: Hebraism, like Hellenism, has been an all-important factor in the development of Western Civilization; Judaism, as the precursor of Christianity, has indirectly had had much to do with shaping the ideals and morality of western nations since the christian era.
  24. ^ Caltron J.H Hayas, Christianity and Western Civilization (1953), Stanford University Press, p. 2: "That certain distinctive features of our Western civilization—the civilization of western Europe and of America—have been shaped chiefly by Judaeo — Graeco — Christianity, Catholic and Protestant."
  25. ^ Fred Reinhard Dallmayr, Dialogue Among Civilizations: Some Exemplary Voices (2004), p. 22: Western civilization is also sometimes described as "Christian" or "Judaeo-Christian" civilization.
  26. ^ Z. Kratochvíl, Studie o křesťanství a řecké filosofii, tr. 34.
  27. ^ Stephen Benko (1984). Pagan Rome and the Early Christians. Indiana University Press. tr. 22–. ISBN 978-0-253-34286-7.
  28. ^ Doris L. Bergen (10 tháng 9 năm 2000). Twisted Cross: The German Christian Movement in the Third Reich. Univ of North Carolina Press. tr. 60–. ISBN 978-0-8078-6034-2.
  29. ^ Catherine Cory (13/10/2015). Christian Theological Tradition. Routledge. tr. 20–. ISBN 978-1-317-34958-7. Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  30. ^ Robinson, Essential Judaism: A Complete Guide to Beliefs, Customs and Rituals, p. 229.
  31. ^ Esler. The Early Christian World. p. 157f.
  32. ^ “CHRISTIANITY IN ITS RELATION TO JUDAISM - JewishEncyclopedia.com”. www.jewishencyclopedia.com. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2023.
  33. ^ Genesis 3:2-3:4
  34. ^ Genesis 3:23-3:24
  35. ^ Woodhead 2004, tr. 45
  36. ^ Briggs Ch. A. The fundamental Christian faith: the origin, history and interpretation of the Apostles' and Nicene creeds. — C. Scribner’s sons, 1913.
  37. ^ McGrath, Alister E. Christianity:An Introduction. Pp 4-6. Blackwell Publishing (2006). ISBN 1-4051-0899-1.
  38. ^ Metzger/Coogan, Oxford Companion to the Bible, pp. 513, 649.
  39. ^ John 3:16
  40. ^ Acts 2:24, Bản mẫu:Bibleref2-nb, Bản mẫu:Bibleref2-nb, Bản mẫu:Bibleref2-nb, Bản mẫu:Bibleref2-nb, Bản mẫu:Bibleref2-nb, Bản mẫu:Bibleref2-nb, Bản mẫu:Bibleref2-nb, Bản mẫu:Bibleref2-nb, Bản mẫu:Bibleref2-nb, Bản mẫu:Bibleref2-nb, Romans 10:9, 1 Cor. 15:15, Bản mẫu:Bibleref2-nb, 2 Cor. 4:14, Gal 1:1, Eph 1:20, Col 2:12, 1 Thess. 11:10, Heb. 13:20, 1 Pet. 1:3, Bản mẫu:Bibleref2-nb
  41. ^ s:Nicene Creed
  42. ^ Acts 1:9–11
  43. ^ Jacobs, Joseph; Kohler, Kaufmann; Gottheil, Richard; Krauss, Samuel. “Jesus of Nazareth”. Jewish Encyclopedia. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 2 năm 2016. Xem Avodah Zarah 17a:1, Sanhedrin 43a:20, Gittin 57a:3-4, và Sotah 47a:6.
  44. ^ Kessler, Ed. “Jesus the Jew”. BBC. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2013.
  45. ^ Norman, Asher (2007). Twenty-six reasons why Jews don't believe in Jesus. Feldheim Publishers. tr. 59–70. ISBN 978-0-9771937-0-7. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2015.
  46. ^ Simmons, Rabbi Shraga, "Why Jews Don't Believe in Jesus" Lưu trữ 27 Tháng 9 2016 tại Wayback Machine.
  47. ^ Isaiah 50:6 Isaiah 52:14-15 Matthew 26:67-68 Mark 14:65
  48. ^ Isaiah 53:5 John 19:1 Matthew 27:26
  49. ^ Hanegraaff, Hank. Resurrection: The Capstone in the Arch of Christianity. Thomas Nelson (2000) ISBN 0-8499-1643-7.
  50. ^ John 19:30-19:31
  51. ^ 1Cor 15:5-15:7
  52. ^ Eerdmans Commentary on the Bible (ed. James D. G. Dunn, John William Rogerson, Eerdmans, 2003) p. 1274
  53. ^ The Blackwell Companion to The New Testament bởi David E. Aune ISBN 1405108258 trang 9 "While seven of the letters attributed to Paul are almost universally accepted as authentic (Romans, 1 and 2 Corinthians, Galatians, Philippians, 1 Thessalonians, Philemon), four are just as widely judged to be pseudepigraphical, i.e. written by unknown authors under Paul's name: Ephesians and the Pastorals (1 and 2 Timothy and Titus).
  54. ^ Eerdmans Commentary on the Bible bởi James D. G. Dunn (Nov 19, 2003) ISBN 0802837115 trang 1274 "There is general scholarly agreement that seven of the thirteen letters beariing Paul's name are authentic, but his authorship of the other six cannot be taken for granted... Romans, 1 and 2 Corinthians, Galatians, Philippians, 1 Thessalonians and Philemon are certainly Paul's own."
  55. ^ B.S. Easton, The Pastoral Epistles (1948) p. 25.
  56. ^ Harris, Stephen L., Understanding the Bible. Palo Alto: Mayfield. 1985. "The Gospels" pp. 266–268
  57. ^ Strelan, Rick - Luke the Priest - the Authority of the Author of the Third Gospel - Was Luke a Jew or Gentile? Ashgate Publishing, Ltd., May 1, 2013, pp. 102–110.
  58. ^ “Evodius of Antioch → Antioch, Church of”. Brill Encyclopedia of Early Christianity Online. doi:10.1163/2589-7993_eeco_dum_00001220. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2022.
  59. ^ Cory, Catherine (13 tháng 8 năm 2015). Christian Theological Tradition. Routledge. p. 20 và tiếp đó. ISBN 978-1-317-34958-7.
  60. ^ Benko, Stephen (1984). Pagan Rome and the Early Christians. Indiana University Press. p. 22 và tiếp đó. ISBN 978-0-253-34286-7.
  61. ^ Seifrid, Mark A. (1992). 'Justification by Faith' and The Disposition of Paul's Argument”. Justification by Faith: The Origin and Development of a Central Pauline Theme. Novum Testamentum. Leiden: Brill Publishers. tr. 210–211, 246–247. ISBN 90-04-09521-7. ISSN 0167-9732.
  62. ^ Wylen, Stephen M., The Jews in the Time of Jesus: An Introduction, Paulist Press (1995), ISBN 0-8091-3610-4, Pp. 190–192.
  63. ^ Dunn, James D.G., Jews and Christians: The Parting of the Ways, A.D. 70 to 135, Wm. B. Eerdmans Publishing (1999), ISBN 0-8028-4498-7, Pp. 33–34.
  64. ^ Boatwright, Mary Taliaferro & Gargola, Daniel J & Talbert, Richard John Alexander, The Romans: From Village to Empire, Oxford University Press (2004), ISBN 0-19-511875-8, p. 426.
  65. ^ Oscar Cullmann, The Earliest Christian Confessions, trans. J. K. S. Reid (London: Lutterworth, 1949)
  66. ^ Michael Whitby, et al. eds. Christian Persecution, Martyrdom and Orthodoxy (2006) online edition
  67. ^ Everett Ferguson, "Factors leading to the Selection and Closure of the New Testament Canon", in The Canon Debate. eds. L. M. McDonald & J. A. Sanders (Hendrickson, 2002) pp. 302–303; cf. Justin Martyr, First Apology 67.3
  68. ^ Porter, Stanley E.; Pitts, Andrew W. biên tập (2018). “The Pre-citation Fallacy in New Testament Scholarship and Sanders's Tendencies of the Synoptic Tradition”. Christian Origins and the Establishment of the Early Jesus Movement. Texts and Editions for New Testament Study. 12. LeidenBoston: Brill Publishers. tr. 89–107. doi:10.1163/9789004372740_007. ISBN 978-90-04-37274-0. LCCN 2018025547. S2CID 201462965.
  69. ^ F. F. Bruce, The Canon of Scripture (Intervarsity Press, 1988) p. 215
  70. ^ The Cambridge History of the Bible (volume 1) eds. P. R. Ackroyd và C. F. Evans (Cambridge University Press, 1970) p. 305
  71. ^ Bản mẫu:Cite CIA World Factbook
  72. ^ Brunner, Borgna (2006). Time Almanac with Information Please 2007. New York: Time Home Entertainment. tr. 685. ISBN 978-1-933405-49-0.
  73. ^ Thomas F. Mathews, Alice Taylor, J. Paul Getty Museum. The Armenian Gospels of Gladzor: the life of Christ illuminated, 2001, 13
  74. ^ James Jupp. The Australian people: an encyclopedia of the nation, its people, 2001, p. 171
  75. ^ Barbara A. West. Encyclopedia of the peoples of Asia and Oceania, 2009, p. 50
  76. ^ “Аршакиды армянские”. bse.sci-lib.com. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2023.
  77. ^ Binns, John. An Introduction to the Christian Orthodox Churches . Cambridge: Cambridge University Press, 2002, p. 30. ISBN 0-521-66738-0.
  78. ^ “Armenia Travel Guide”. National Geographic (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2023.
  79. ^ Harris, Jonathan (2017). Constantinople: Capital of Byzantium (ấn bản 2). Bloomsbury Academic. tr. 38. ISBN 978-1-4742-5467-0.
  80. ^ Ricciotti 1999
  81. ^ Theodosian Code XVI.i.2, trong: Bettenson. Documents of the Christian Church. p. 31.
  82. ^ Ancient Rome: The Rise and The Fall of An Empire). Tập 5: Constantinople. Được trình bày bởi History, 2009
  83. ^ McTavish, T. J. (2010). A Theological Miscellany: 160 Pages of Odd, Merry, Essentially Inessential Facts, Figures, and Tidbits about Christianity. Thomas Nelson. ISBN 978-1-4185-5281-7. The Nicene Creed, as used in the churches of the West (Anglican, Catholic, Lutheran, and others), contains the statement, "We believe [or I believe] in the Holy Spirit, the Lord, the giver of life, who proceeds from the Father and the Son."
  84. ^ “Our Common Heritage as Christians”. The United Methodist Church. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 1 năm 2006. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2007.
  85. ^ a b c d González 1984, tr. 238–242
  86. ^ González 1984, tr. 244–47
  87. ^ González 1984, tr. 260
  88. ^ González 1984, tr. 278–281
  89. ^ Rudy, The Universities of Europe, 1100–1914, p. 40
  90. ^ Verger, Jacques (1999). Culture, enseignement et société en Occident aux XIIe et XIIIe siècles (bằng tiếng Pháp) (ấn bản 1). Presses universitaires de Rennes. ISBN 978-2-86847-344-8. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2014.
  91. ^ Verger, Jacques. "The Universities and Scholasticism," trong The New Cambridge Medieval History: Volume V k. 1198–k. 1300. Cambridge University Press, 2007, 257.
  92. ^ Rüegg, Walter: "Foreword. The University as a European Institution", trong: A History of the University in Europe. Vol. 1: Universities in the Middle Ages, Cambridge University Press, 1992, ISBN 0-521-36105-2, pp. XIX–XX
  93. ^ Parole de l'Orient, Volume 30. Université Saint-Esprit. 2005. tr. 488.
  94. ^ González 1984, tr. 292–300
  95. ^ Riley-Smith. The Oxford History of the Crusades.
  96. ^ “The Great Schism: The Estrangement of Eastern and Western Christendom”. Orthodox Information Centre. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2007.
  97. ^ Duffy, Saints and Sinners (1997), tr. 91
  98. ^ a b c Simon. Great Ages of Man: The Reformation. p. 7.
  99. ^ Schama. A History of Britain. pp. 306–310.
  100. ^ Bokenkotter 2004, tr.242–244
  101. ^ Simon. Great Ages of Man: The Reformation. pp. 109–120.
  102. ^ Coffey, Persecution and Toleration in Protestant England 1558–1689.
  103. ^ Novak, Michael (1988). Catholic social thought and liberal institutions: Freedom with justice. Transaction. tr. 63. ISBN 978-0-88738-763-0.
  104. ^ Religion and the State in Russia and China: Suppression, Survival, and Revival, bởi Christopher Marsh, p. 47. Continuum International Publishing Group, 2011.
  105. ^ Inside Central Asia: A Political and Cultural History, bởi Dilip Hiro. Penguin, 2009.
  106. ^ Adappur, Abraham (2000). Religion and the Cultural Crisis in India and the West. Intercultural Publications. ISBN 978-81-85574-47-9. Forced Conversion under Atheistic Regimes: It might be added that the most modern example of forced "conversions" came not from any theocratic state, but from a professedly atheist government—that of the Soviet Union under the Communists.
  107. ^ Geoffrey Blainey (2011). A Short History of Christianity; Viking; p. 494
  108. ^ Jenkins, Philip (2011). “The Rise of the New Christianity”. The Next Christendom: The Coming of Global Christianity. OxfordNew York: Oxford University Press. tr. 101–133. ISBN 9780199767465. LCCN 2010046058.
  109. ^ “Number of Catholics on the Rise”. Zenit. ngày 27 tháng 4 năm 2010.
  110. ^ “Why Muslims are the world's fastest-growing religious group”. Pew Research Center. 6 tháng 4 năm 2017.
  111. ^ Johnstone, Patrick; Miller, Duane Alexander (2015). “Believers in Christ from a Muslim Background: A Global Census”. IJRR. 11 (10): 1–19. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2015.
  112. ^ Miller, Duane Alexander (2016). Living among the Breakage: Contextual Theology-Making and Ex-Muslim Christians. Edinburgh University Press. tr. 435–481. ISBN 9781498284172.
  113. ^ a b Putnam, Democracies in Flux: The Evolution of Social Capital in Contemporary Society, p. 408.
  114. ^ a b Peter Marber, Money Changes Everything: How Global Prosperity Is Reshaping Our Needs, Values and Lifestyles, p. 99.
  115. ^ Werner Ustorf, "A missiological postscript", in Hugh McLeod, Werner Ustorf (editors), The Decline of Christendom in Western Europe, 1750-2000, Cambridge University Press (2003), 219-220.
  116. ^ Kosmin, Barry A.; Keysar, Ariela (2009). “American Religious Identification Survey (ARIS) 2008” (PDF). Hartford, CN: Trinity College. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 7 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2009.
  117. ^ “Religions in Canada – Census 2001”. 2.statcan.ca. 9 tháng 3 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2010.
  118. ^ “Eastern and Western Europeans Differ on Importance of Religion, Views of Minorities, and Key Social Issues”. Pew Research Center. 29 tháng 10 năm 2018.
  119. ^ Henkel, Reinhard và Hans Knippenberg: "The Changing Religious Landscape of Europe", đã sửa bởi Knippenberg, xuất bản bởi Het Spinhuis, Amsterdam 2005 ISBN 90-5589-248-3, trang 7-9
  120. ^ “Max Weber and Pentecostals in Latin America: The Protestant Ethic, Social Capital and Spiritual Capital Ethic, Social Capital and Spiritual Capital”. Georgia State University. 9 tháng 5 năm 2016. Many scholars claim that Pentecostalism is the fastest growing religious phenomenon in human history.
  121. ^ "Gospel Riches, Africa's rapid embrace of prosperity Pentecostalism provokes concern and hope", Christianity Today, July 2007
  122. ^ Miller, Donald E; Sargeant, Kimon H; Flory, Richard biên tập (9 tháng 9 năm 2013). Spirit and Power: The Growth and Global Impact of Pentecostalism. Oxford University Press Scholarship. doi:10.1093/acprof:oso/9780199920570.001.0001. ISBN 978-0-19-934563-2. Pentecostalism is the fastest-growing religious movement in the world
  123. ^ Anderson, Allan; Bergunder, Michael; Droogers, Andre (9 tháng 5 năm 2012). Studying Global Pentecostalism: Theories and Methods. University of California Press Scholarship. doi:10.1525/california/9780520266612.001.0001. ISBN 9780520266612. With its remarkable ability to adapt to different cultures, Pentecostalism has become the world's fastest growing religious movement.
  124. ^ “Pentecostalism—the fastest growing religion on earth”. ABC. 30 tháng 5 năm 2021.
  125. ^ “Pentecostalism: Massive Global Growth Under the Radar”. Pulitzer Center. 9 tháng 3 năm 2015. Today, one quarter of the two billion Christians in the world are Pentecostal or Charismatic. Pentecostalism is the fastest growing religion in the world.
  126. ^ Juergensmeyer, Mark (2005). Religion in Global Civil Society. Oxford University Press. tr. 16. ISBN 978-0-19-804069-9.
  127. ^ Barker, Isabelle V. (2005). “Engendering Charismatic Economies: Pentecostalism, Global Political Economy, and the Crisis of Social Reproduction”. American Political Science Association. tr. 2, 8 và chú thích 14 ở tr. 8. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2010.
  128. ^ Yakobson, Alexander; Rubinstein, Amnon (2009). Israel and the Family of Nations: The Jewish Nation-state and Human Rights. Taylor & Francis. tr. 215. ISBN 9780415464413. Thus the Constitution of Costa Rica, which is considered a model of stable democracy in Latin America, states in Article 75: The Catholic and Apostolic Religion is the religion of the State, which contributes to its maintenance, without preventing the free exercise in the Republic of other forms of worship that are not opposed to universal morality or good customs.
  129. ^ “Heim | Hagstova Føroya” (PDF). hagstova.fo. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2023.
  130. ^ Shadid, W. A. R. (1 tháng 1 năm 1995). Religious Freedom and the Position of Islam in Western Europe. Peeters Publishers. tr. 11. ISBN 9789039000656. Denmark has declared the Evangelical Lutheran church to be that national church (par. 4 of the Constitution), which corresponds the fact that 91.5% of the population are registered members of this church. This declaration implies that the Danish State does not take a neutral stand in religious matters. Nevertheless, freedom of religion has been incorporated in the Constitution. Nielsen (1992, 77) gives a short description of the position of the minority religious communities in comparison to that of the State Church: The Lutheran established church is a department of the state. Church affairs are government by a central government ministry, and clergy are government employees. The registration of births, deaths and marriages falls under this ministry of church affairs, and normally speaking the local Lutheran pastor is also the official registrar. The other small religious communities, viz. Roman Catholics, Methodists, Baptists and Jews, have the constitutional status of 'recognised communities of faith'. ... Contrary to the minority religious communities, the Lutheran Church is fully financed by the Danish State.
  131. ^ Joppke, Christian (3 tháng 5 năm 2013). Veil. John Wiley & Sons. tr. 1. ISBN 9780745658575.
  132. ^ “Hiến pháp Georgia”. www.parliament.ge. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2023. Điều 9(1&2) và 73(1a1)
  133. ^ Jiang, Qing (2012). A Confucian Constitutional Order. Princeton University Press. tr. 221. ISBN 9780691154602. The features of the state affect the essence of the state, but the key term is that of historical identity, hence this chapter concentrates on historical identity as the essence of the state, though at times some of the other features will also be referred to. For instance, ancient Greece has now become an Orthodox Christian state. Ancient Persia (Iran) has now become a Muslim state, and the ancient Buddhist states of the Silk Route have also become Islamic states.
  134. ^ Enyedi, Zsolt; Madeley, John T.S. (2 tháng 8 năm 2004). Church and State in Contemporary Europe. Routledge. tr. 119. ISBN 9781135761417. Greece is the only Orthodox country in the EU.
  135. ^ “Hiến pháp Hungary” (PDF). www.constituteproject.org. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2023.
  136. ^ Melton, J. Gordon (1 tháng 1 năm 2005). Encyclopedia of Protestantism. Infobase Publishing. tr. 283. ISBN 9780816069835.
  137. ^ Fox, Jonathan (19 tháng 5 năm 2008). A World Survey of Religion and the State. Cambridge University Press. tr. 119. ISBN 9781139472593. Liechtenstein's constitution designates the Catholic Church as the state Church and guarantees religious freedom. Article 38 provides protection for the property rights of all religious institutions and states that "the administration of church property in the parishes shall be regulated by a specific law; the agreement of church authorities shall be sought before the law is enacted." Article 16 states that religious instruction in public schools "shall be given by church authorities."
  138. ^ Gozdecka, Dorota Anna (27 tháng 8 năm 2015). Rights, Religious Pluralism and the Recognition of Difference: Off the Scales of Justice. Routledge. tr. 59. ISBN 9781317629801. According to Section 2 of the Maltese Constitution from the year 1964, amended in 1994 and 1996, the state church of Malta is the Roman Catholic Church. According to the same section it is endowed with a legal right to determine moral rights and wrongs and is privileged in public education: 1. The religion of Malta is the Roman Catholic Apostolic Religion. 2. The authorities of the Roman Catholic Apostolic Church have the duty to teach which principles are right and which are wrong. Religious teaching of the Roman Catholic Apostolic Faith shall be provided in all State schools as part of compulsory education.
  139. ^ “Chapter 1 – The Republic of Malta”. Legal-Malta. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2011.
  140. ^ “CONSTITUTION DE LA PRINCIPAUTE”. www.gouv.mc. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 9 năm 2011. Điều 9, Principaute De Monaco: Ministère d'Etat
  141. ^ “Hiến pháp Na Uy, Điều 16 (bản tiếng Anh bởi Quốc hội Na Uy)” (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 8 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2015.
  142. ^ Wyeth, Grant (16 tháng 6 năm 2017). “Samoa Officially Becomes a Christian State”. The Diplomat. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2017.
  143. ^ Paul Pavlovich, The History of the Serbian Orthodox Church
  144. ^ Fodor's (12 tháng 2 năm 1986). Fodor's South Pacific. Fodor's. ISBN 9780679013075. As King George I of Tonga, Tupou created the "modern" Christian state with the Cross dominating its flag, and with the rigorous constitutional clause regulating observation of the Sabbath.
  145. ^ Oliver, Douglas L. (1 tháng 1 năm 1989). The Pacific Islands. University of Hawaii Press. tr. 118. ISBN 9780824812331. Tonga, according to its mission friends, exemplified how grace and selfless devotion to the task could transform a feuding array of heathen communities into a unified Christian state.
  146. ^ Temperman, Jeroen (2010). State-Religion Relationships and Human Rights Law. Brill Academic Publishers. tr. 18. ISBN 9789004181489. The Constitution of Tuvalu in a similar vein constitutes Tuvalu as "an independent State based on Christian principles...and Tuvaluan custom and tradition"; and also the Constitution of Vanuatu proclaims in its Preamble: "[we] HEREBY proclaim the establishment of the united and free Republic of Vanuatu founded on traditional Melanesian values, faith in God, and Christian principles..."
  147. ^ Temperman, Jeroen (2010). State-Religion Relationships and Human Rights Law. Brill Academic Publishers. tr. 18. ISBN 9789004181489. The Catholic State of Vatican City is, of course, the best contemporary example of a Christian state. The State of Vatican City, originally established by the Lateran Pacts of 1929, approximates most faithfully the ideal-typical conception of theocratic Roman Catholic state. The Pope is ex officio simultaneously leader of the Catholic Church as well as Head of State and Head of the Government of the State of the Vatican City; he also possesses de jure absolute authority over the legislative, executive and judicial branches. Practically all acts and policies of the Vatican City revolve around the interests of the Holy See and, apart from the members of the Pontifical Swiss Guard, virtually all inhabitants of the Vatican City are members of the clergy.
  148. ^ Jenkins, Philip (11 tháng 8 năm 2011). The Next Christendom: The Coming of Global Christianity. Oxford University Press. tr. 187. ISBN 9780199911530.
  149. ^ Robinson, George. Essential Judaism: A Complete Guide to Beliefs, Customs and Rituals. New York: Pocket Books, 2000, p. 229.
  150. ^ Esler, Phillip F. The Early Christian World. Routledge (2004), p. 157-158.
  151. ^ Metzger, Bruce M. and Michael Coogan, editors. Oxford Companion to the Bible. Pp 513, 649. Oxford University Press (1993). ISBN 0-19-504645-5.
  152. ^ J.N.D. Kelly, The Athanasian Creed, NY: Harper and Row, 1964.
  153. ^ Nicene Creed - Wikisource
  154. ^ Công vụ các Sứ đồ 1: 9-11
  155. ^ Catechism of the Catholic Church, Inspiration and Truth of Sacred Scripture (§105-108)
  156. ^ Second Helvetic Confession, Of the Holy Scripture Being the True Word of God
  157. ^ Chicago Statement on Biblical Inerrancy, online text
  158. ^ Cambridge University Historical Series, An Essay on Western Civilization in Its Economic Aspects, p.40: Hebraism, like Hellenism, has been an all-important factor in the development of Western Civilization; Judaism, as the precursor of Christianity, has indirectly had had much to do with shaping the ideals and morality of western nations since the christian era.
  159. ^ Caltron J.H Hayas, Christianity and Western Civilization (1953),Stanford University Press, p.2: That certain distinctive features of our Western civilization — the civilization of western Europe and of America— have been shaped chiefly by Judaeo – Graeco – Christianity, Catholic and Protestant.
  160. ^ Orlandis, A Short History of the Catholic Church (1993), preface.
  161. ^ Dawson, Christopher; Glenn Olsen (1961). Crisis in Western Education . tr. 108. ISBN 978-0-8132-1683-6.
  162. ^ a b Koch, Carl (1994). The Catholic Church: Journey, Wisdom, and Mission. Early Middle Ages: St. Mary's Press. ISBN 978-0-88489-298-4.
  163. ^ Brooke, John H.; Numbers, Ronald L. biên tập (2011). Science and Religion Around the World. New York: Oxford University Press. tr. 71. ISBN 978-0-195-32819-6.
  164. ^ Koch, Carl (1994). The Catholic Church: Journey, Wisdom, and Mission. The Age of Enlightenment: St. Mary's Press. ISBN 978-0-88489-298-4.
  165. ^ Dawson, Christopher; Olsen, Glenn (1961). Crisis in Western Education . ISBN 978-0-8132-1683-6.
  166. ^ Encyclopædia Britannica Forms of Christian education
  167. ^ Rüegg, Walter: "Foreword. The University as a European Institution", in: A History of the University in Europe. Vol. 1: Universities in the Middle Ages, Cambridge University Press, 1992, ISBN 0-521-36105-2, pp. XIX–XX
  168. ^ Verger, Jacques (1999). Culture, enseignement et société en Occident aux XIIe et XIIIe siècles (bằng tiếng Pháp) (ấn bản 1). Presses universitaires de Rennes in Rennes. ISBN 286847344X. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2014.
  169. ^ Susan Elizabeth Hough, Richter's Scale: Measure of an Earthquake, Measure of a Man, Princeton University Press, 2007, ISBN 0691128073, p. 68.
  170. ^ Woods, Thomas E. (2005). How the Catholic Church Built Western Civilization. Washington, DC: Regnery. ISBN 0-89526-038-7.
  171. ^ Encyclopædia Britannica Jesuit
  172. ^ Hannam, James (2009). God's Philosophers: How the Medieval World Laid the Foundations of Modern Science. Icon Books.
  173. ^ Wallace, William A. (1984). Prelude, Galileo and his Sources. The Heritage of the Collegio Romano in Galileo's Science. N.J.: Princeton University Press.
  174. ^ Encyclopædia Britannica Church and social welfare
  175. ^ Encyclopædia Britannica Care for the sick
  176. ^ Encyclopædia Britannica Property, poverty, and the poor,
  177. ^ Weber, Max (1905). Nền đạo đức Tin Lành và tinh thần của chủ nghĩa tư bản.
  178. ^ Encyclopædia Britannica Church and state
  179. ^ Sir Banister Fletcher, History of Architecture on the Comparative Method.
  180. ^ Buringh, Eltjo; van Zanden, Jan Luiten: "Charting the "Rise of the West": Manuscripts and Printed Books in Europe, A Long-Term Perspective from the Sixth through Eighteenth Centuries", The Journal of Economic History, Vol. 69, No. 2 (2009), pp. 409–445 (416, table 1)
  181. ^ Encyclopædia Britannica The tendency to spiritualize and individualize marriage
  182. ^ Hill, Donald. Islamic Science and Engineering. 1993. Edinburgh Univ. Press. ISBN 0-7486-0455-3, p.4
  183. ^ Brague, Rémi (ngày 15 tháng 4 năm 2009). The Legend of the Middle Ages. tr. 164. ISBN 9780226070803. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2014.
  184. ^ Ferguson, Kitty Pythagoras: His Lives and the Legacy of a Rational Universe Walker Publishing Company, New York, 2008, (page number not available – occurs toward end of Chapter 13, "The Wrap-up of Antiquity"). "It was in the Near and Middle East and North Africa that the old traditions of teaching and learning continued, and where Christian scholars were carefully preserving ancient texts and knowledge of the ancient Greek language."
  185. ^ Rémi Brague, Assyrians contributions to the Islamic civilization Lưu trữ 2013-09-27 tại Wayback Machine
  186. ^ Britannica, Nestorian
  187. ^ Religious Affiliation of History's 100 Most Influential People Lưu trữ 2012-01-06 tại Wayback Machine
    The Scientific 100 Lưu trữ 2017-07-09 tại Wayback Machine
    50 Nobel Laureates and Other Great Scientists Who Believe in God Lưu trữ 2019-06-17 tại Wayback Machine
    Religious Affiliation of the World's Greatest Artists Lưu trữ 2018-06-03 tại Wayback Machine
    The Wealthy 100 Lưu trữ 2019-08-12 tại Wayback Machine
    Religious Affiliation of History's Greatest Philosophers Lưu trữ 2018-06-07 tại Wayback Machine
  188. ^ Baruch A. Shalev, 100 Years of Nobel Prizes (2003), Atlantic Publishers & Distributors, p.57: between 1901 and 2000 reveals that 654 Laureates belong to 28 different religions. Most (65.4%) have identified Christianity in its various forms as their religious preference. ISBN 978-0935047370

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]