Komsomolsk-na-Amure

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Komsomolsk-on-Amur
Комсомольск-на-Амуре
—  City  —
Kiến trúc Stalin ở Komsomolsk-on-Amur
Kiến trúc Stalin ở Komsomolsk-on-Amur
Flag of Komsomolsk-on-Amur (Khabarovsk kray).png
Hiệu kỳ
Coat of Arms of Komsomolsk-na-Amure (Khabarovsk kray) (1999).png
Huy hiệu
Vị trí của Komsomolsk-on-Amur
Komsomolsk-on-Amur trên bản đồ Nga
Komsomolsk-on-Amur
Komsomolsk-on-Amur
Vị trí của Komsomolsk-on-Amur
Quốc giaNga
Chủ thể liên bangKhabarovsk
Thành lập1932
Đặt tên theoĐội thiếu niên tiền phong sửa dữ liệu
Chính quyền
 • MayorVladimir Mikhalyov
Diện tích
 • Tổng cộng325,10 km2 (12,550 mi2)
Độ cao47 m (154 ft)
Dân số (Điều tra 2010)[1]
 • Tổng cộng263.900
 • Ước tính (2018)[2]248.254 (-5,9%)
 • Thứ hạng70th năm 2010
 • Mật độ8.1/km2 (21/mi2)
 • Okrug đô thịKomsomolsk-na-Amure Urban Okrug
Múi giờ[3] (UTC+10)
Mã bưu chính[4]6810xx
Mã điện thoại+7 4217
Thành phố kết nghĩaGiai Mộc Tư, Kamo sửa dữ liệu
Thành phố kết nghĩaGiai Mộc Tư, KamoSửa đổi tại Wikidata
OKTMO08709000001
Trang webwww.kmscity.ru

Komsomolsk-na-Amure (tiếng Nga: Комсомольск-на-Амуре) là một thành phố Nga. Thành phố này thuộc chủ thể Khabarovsk Krai Oblast. Thành phố có dân số 281.035 người (theo điều tra dân số năm 2002. Đây là thành phố lớn thứ 67 của Nga theo dân số năm 2002. Dân số qua các thời kỳ: 263.900 (Điều tra dân số 2010);[1] 281.035 (Điều tra dân số 2002);[5] 315.325 (Điều tra dân số năm 1989).[6]

Địa lý và khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Komsomolsk và vùng ngoại ô của nó kéo dài hơn 30 km (19 dặm) dọc theo tả ngạn của sông Amur. Sông vào điểm này là rộng 2,5 km. Khoảng cách đến Khabarovsk - trung tâm hành chính của Krai là 356 km (221 dặm), Thái Bình Dương khoảng 300 km (190 dặm). Các thành thị lớn gần nhất khác là Amursk, khoảng 45 km (28 dặm) về phía nam.

Nhiệt độ ở khu vực của thành phố có thể lên tới 50 °C (122 °F) trong quá trình của năm, với mức trung bình hàng ngày của -29 °C (-20 °F) vào tháng Giêng, so với 26 °C (79 °F) vào tháng Bảy.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Komsomolsk bị chinh phục bởi quân Mông Cổ vào thế kỷ 13, trở thành một phần của Đế quốc Mông Cổ dưới Triều đại nhà Nguyên Mông Cổ và sau đó người Mãn Châu chiếm giữ cho đến hiệp ước Aigun năm 1858 nhường khu vực cho Đế quốc Nga. Làng Permskoye (Пермское) được thành lập trên khu vực sau này của Komsomolsk năm 1860 của nông dân di cư từ Perm Krai.

Chính phủ của Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô Viết Nga công bố vào năm 1931 kế hoạch xây dựng một nhà máy đóng tàu Amur ở khu vực nay là Komsomolsk, bắt đầu xây dựng vào năm 1932. Thị trấn đã được phần lớn được xây dựng sử dụng lao động tình nguyện từ các tổ chức thanh niên cộng sản Komsomol, do đó nhận được tên gọi Komsomolsk. Các hậu tố trên Amur đã được thêm vào để phân biệt từ các thị trấn khác có cùng tên. Nó đã được cấp tư cách thị trấn vào năm 1933. Đến cuối những năm 1930, các xưởng đóng tàu cùng với cơ sở vật chất cho ngành công nghiệp nặng khác đã được hoàn thành. Thành phố phát triển thành một trung tâm khu vực cho các ngành công nghiệp như luyện kim, máy móc, lọc dầu, và đóng tàu.

Thành phố kết nghĩa[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Cục Thống kê Quốc gia Liên bang Nga (2011). “Всероссийская перепись населения 2010 года. Том 1” [2010 All-Russian Population Census, vol. 1]. Всероссийская перепись населения 2010 года [Kết quả sơ bộ Điều tra dân số toàn Nga năm 2010] (bằng tiếng Nga). Cục Thống kê Quốc gia Liên bang Nga. 
  2. ^ http://habstat.gks.ru/wps/wcm/connect/rosstat_ts/habstat/resources/4fcf3a80408ea6bca127eb4d45abe5e4/Численность+населения+Хабаровского+края+по+муниципальным+образованиям+на+1+января+2018+года.doc.
  3. ^ “Об исчислении времени”. Официальный интернет-портал правовой информации (bằng tiếng Nga). 3 tháng 6 năm 2011. Truy cập 19 tháng 1 năm 2019. 
  4. ^ Почта России. Информационно-вычислительный центр ОАСУ РПО. (Russian Post). Поиск объектов почтовой связи (Postal Objects Search) (tiếng Nga)
  5. ^ Cục Thống kê Quốc gia Liên bang Nga (21 tháng 5 năm 2004). “Численность населения России, субъектов Российской Федерации в составе федеральных округов, районов, городских поселений, сельских населённых пунктов – районных центров и сельских населённых пунктов с населением 3 тысячи и более человек” [Dân số Nga, các chủ thể Liên bang Nga trong thành phần các vùng liên bang, các huyện, các điểm dân cư đô thị, các điểm dân cư nông thôn—các trung tâm huyện và các điểm dân cư nông thôn với dân số từ 3 nghìn người trở lên] (XLS). Всероссийская перепись населения 2002 года [Điều tra dân số toàn Nga năm 2002] (bằng tiếng Nga). 
  6. ^ “Всесоюзная перепись населения 1989 г. Численность наличного населения союзных и автономных республик, автономных областей и округов, краёв, областей, районов, городских поселений и сёл-райцентров” [Điều tra dân số toàn liên bang năm 1989. Dân số hiện tại của liên bang và các cộng hòa tự trị, tỉnh và vùng tự trị, krai, tỉnh, huyện, các điểm dân cư đô thị, và các làng trung tâm huyện]. Всесоюзная перепись населения 1989 года [All-Union Population Census of 1989] (bằng tiếng Nga). Институт демографии Национального исследовательского университета: Высшая школа экономики [Viện Nhân khẩu học Đại học Quốc gia: Trường Kinh tế]. 1989 – qua Demoscope Weekly. 

Bản mẫu:Khabarovsk Krai