Kuroshio (tàu khu trục Nhật)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Kuroshio được hạ thủy
Tàu khu trục Kuroshio đang được hạ thủy
History
Naval Ensign of Japan.svgNhật Bản
Name: Kuroshio
Ordered: 1937
Laid down: 31 tháng 8 năm 1937
Launched: 25 tháng 10 năm 1938
Decommissioned: 27 tháng 1 năm 1940
Struck: 20 tháng 6 năm 1943
Fate: Bị chìm do trúng thủy lôi ngoài khơi Vila, Kolombangara, 8 tháng 5 năm 1943
General characteristics
Class and type: Lớp tàu khu trục Kagerō
Displacement: list error: <br /> list (help)
2.000 tấn Anh (2.032 t) (tiêu chuẩn)
2.500 tấn Anh (2.540 t) (đầy tải)
Length: list error: <br /> list (help)
116,20 m (381 ft 3 in) (mực nước)
118,50 m (388 ft 9 in) (chung)
Beam: 10,80 m (35 ft 5 in)
Draft: 3,76 m (12 ft 4 in)
Propulsion: list error: <br /> list (help)
2 × turbine hơi nước Kanpon
3 × nồi hơi ống nước Kampon
2 × trục
công suất 52.000 mã lực (38,8 MW)
Speed: 35,5 hải lý một giờ (40,9 mph; 65,7 km/h)
Range: 5.000 nmi (9.300 km) ở tốc độ 18 kn (21 mph; 33 km/h)
Complement: 239
Armament: list error: <br /> list (help)
6 × hải pháo Kiểu 3 127 mm/50 caliber (3×2)
28 × pháo 25 mm Kiểu 96 phòng không
4 × pháo phòng không 13 mm Kiểu 95
8 × ống phóng ngư lôi Kiểu 92 (2×4)
16 × ngư lôi 610 mm Kiểu 93
36 × mìn sâu Kiểu 95

Kuroshio (tiếng Nhật: 黒潮) là một tàu khu trục hạng nhất của Hải quân Đế quốc Nhật Bản thuộc lớp Kagerō đã phục vụ tại Mặt trận Thái Bình Dương trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Tên của nó được đặt theo dòng hải lưu Kuroshio, mang nghĩa "dòng nước đen".

Trong đêm 78 tháng 5 năm 1943, đang khi thực hiện một chuyến đi vận chuyển binh lính đến Kolombangara, Kuroshio trúng phải một quả thủy lôi lúc đang rời Vila, Kolombangara, và chìm ở tọa độ 08°08′N 156°55′Đ / 8,133°N 156,917°Đ / -8.133; 156.917.

Kuroshio được rút khỏi danh sách Đăng bạ Hải quân vào ngày 20 tháng 6 năm 1943.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tọa độ: 08°08′N 156°55′Đ / 8,133°N 156,917°Đ / -8.133; 156.917