Làng Hậu Ái

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Làng Hậu Ái là một thôn thuộc xã Vân Canh, Hoài Đức, Hà Nội

Làng Hậu Ái

DinhHauAi.jpg
Hành chính
TỉnhHà Nội
HuyệnHoài Đức
Vân Canh, Hoài Đức
Địa lý
Diện tích2,49 km²
Dân số
Tổng cộng2.533 người (1999)
Khác

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Hậu Ái là một thôn rất cổ, trước kia gọi là làng Nhân Ái, sau đổi thành làng Hậu Ái như ngày nay.

Đầu thế kỷ XIX làng là một trong số bảy làng Canh, thuộc tổng Hương Canh, huyện Từ Liêm - một trong tứ danh hương của huyện Từ Liêm xưa "Mỗ La Canh Cót".

Hiện nay, làng gồm có 4 đội (11 đến 14). Các xóm trong làng có tên Nôm là xóm Chùa, Đình, Trúc, Thích Gia, Bìm, Mả Đầu, Dộc, Điếm Trong, Điếm Ngoài

Truyền thống khoa cử[sửa | sửa mã nguồn]

Theo nội dung tấm bia từ Văn chỉ chuyển về dựng ở cửa đình, thôn Hậu Ái từng sinh ra 9 người đỗ đại khoa từ thời Lý đến thời Nguyễn, 21 hương cống, cử nhân, 15 sinh đồ, tú tài.

Đỗ Kính Tu là người đầu tiên và đã đỗ đầu khoa thi Tam giáo đời Lý Anh Tông (1138 - 1175). Ngài làm đến chức Thái uý, sau tự vẫn vì bị vu cáo, lăng mộ hiện còn ở khu mả Am.

Danh sách các vị tiến sĩ làng Hậu Ái:

  1. Đỗ Kính Tu (? - 1216) thi đỗ Thái học sinh - đỗ đầu khoa thi Tam giáo đời Lý Anh Tông (1138 - 1175).
  2. Nguyễn Hành thi đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ, khoa thi năm 1532, đời Mạc Đăng Doanh.
  3. Lê Củ Phương (1512 – 1560) thi đỗ Hoàng giáp khoa thi năm 1541, đời Mạc Phúc Hải.
  4. Nguyễn Lương (1519 – ?) thi đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ, khoa thi năm 1550, đời Mạc Phúc Nguyên.
  5. Lê Đức Vọng (1602 – 1667) thi đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ, khoa thi năm 1637, đời vua Lê Thần Tông.
  6. Lê Địch Văn thi đỗ khoa Sĩ vọng
  7. Lê Địch Giáo thi đỗ khoa Sĩ vọng
  8. Lê Đức Nghiệp thi đỗ khoa Hoành từ
  9. Nguyễn Bá Đôn (1822 – ?) thi đỗ Đệ tam giáp đồng cát sĩ khoa Tân Hợi năm 1851, đời vua Tự Đức.

Đỗ Kính Tu, thành hoàng làng thôn Hậu Ái[sửa | sửa mã nguồn]

Đỗ Kính Tu sinh năm 1148 (Mậu Thìn) hoặc năm 1152 (Nhâm Thân) trong một gia đình nho học tại Nhân Lý, huyện Từ Liêm, phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây (nay là làng Hậu Ái). Ông thông minh từ bé, năm 13 tuổi đã đỗ Tú tài kỳ thi Hương. Đến năm 18 tuổi, khi triều đình mở khoa thi võ, ông đỗ Phong Võ Chức và được vua cử đi dẹp giặc. Năm 33 tuổi, ông đỗ đầu khoa thi Tam giáo thời Lý Cao Tông và được vua phong chức Hàn Lâm Viện Đại Học Sĩ kiêm Võ sư. Sau đó, ông được phong nhiều chức như: Thái úy, Thái phó (Tể tướng), Đế Sư, Thái Bảo và được vua ban cho mang họ vua là Lý Kính Tu. Sau ông giữ chức Quốc sư phụ chính thời Lý Cao Tông. Nếu Tô Hiến Thành nhận di chiếu của Lý Anh Tông lập Lý Long Trát làm vua, tức Cao Tông thì Đỗ Kính Tu nhận di chiếu của Vua Lý Cao Tông lập Lý Hạo Sảm lên làm vua, tức Lý Huệ Tông. Theo nhà bác học Phan Huy Chú, thời Lý chỉ có bốn người được xếp vào hàng “những người phò tá có công lao tài đức”, trong đó có Đỗ Kính Tu.

Ngai thờ Đỗ Kính Tu ở đình Hậu Ái

Năm 1182, sau khi Thái úy Tô Hiến Thành mất, Đỗ Kính Tu được giữ chức Đế sư (thầy dạy học cho vua nhỏ Lý Cao Tông), từ đó chấm dứt hoàn toàn âm mưu phế lập của Chiêu Linh thái hậu. Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Năm Nhâm Dần, lấy Kính Tu làm đế sư, trong thì hầu giảng sách, ngoài thì chăm việc dân, từ đó thái hậu Chiêu Linh không dám manh tâm mưu khác”[1]. Năm 1175, bà Chiêu Linh từng muốn bỏ Lý Long Trát mà lập Long Xưởng (con trai bà) làm vua nhưng Tô Hiến Thành không nghe. Bốn năm sau, Tô Hiến Thành qua đời, bà lại muốn thay đổi vua nhưng Đỗ Kính Tu phản đối, bà cũng đành chịu.

Mùa xuân năm 1204, Đỗ Kính Tu cầm quân ra trận đi đánh bọn nổi loạn ở Đại Hoàng (nay thuộc thành phố Nam Định) nhưng không được. Cầm đầu cuộc nổi loạn là Phi Long vốn là một quan chức cùa triều đình, từng vạch tội thái úy Đàm Dĩ Mông đục khoét nhân dân nên bị viên quan này âm mưu sát hại. Phi Long trốn về quê ở vùng Đại Hoàng rồi cùng nhân dân khởi nghĩa. Khi Đỗ Kính Tu đem quân tới, Phi Long ra trước ngựa phân trần. Cảm thông với hoàn cảnh của Phi Long, Kính Tu giao chiến chiếu lệ rồi thu quân. Việc này đã mang lại hậu họa cho ông.

Năm 1210, ông nhận di chiếu của vua Cao Tông lập Lý Hạo Sảm làm vua, tức Lý Huệ Tông. Đại Việt sử ký toàn thư chép: "Mùa đông, tháng 10, vua không khỏe, gọi Đỗ Kính Tu và nhận mệnh ký thác. Ngày 28 Nhâm Ngọ, vua băng ở cung Thánh Thọ."

Ở làng Hậu Ái, người dân còn nhớ mãi công lao của ông đã cứu làng khỏi nạn úng ngập. Làng này nằm trong vùng đất trũng, đến mùa mưa cả làng chìm trong nước. Ai cũng muốn có con mương tiêu nước từ Di Trạch qua Hậu Ái, Hòe Thị, Thị Cấm rồi đổ vào sông Nhuệ, nhưng không làm được vì phải đi qua nhiều làng. Đỗ Kính Tu đã đứng ra thương lượng với các địa phương, lấy hơn chục mẫu ruộng do vua ban để đền bù cho các chủ đất, cho đào ngòi Hương Khê từ Đồng Chầm thuộc thôn Hậu Ái, qua địa phận các thôn Kim Hoàng, An Trai, Hòe Thị, Thị Cấm, đến cửa chùa Linh Ứng ra sông Nhuệ. Nhờ đó con mương ra đời, Hậu Ái không còn bị khổ vì nạn úng ngập nữa.

Nhưng bọn quan ghen ghét đã vu cáo ông cho đào mương để tiện hành quân đánh úp kinh thành. Uất ức quá, Đỗ Kính Tu cưỡi ngựa ra sông Hồng tự vẫn. Còn lưu truyền huyền thoại, trước lúc ông lên ngựa để phi ra sông Hồng (quãng Thượng Cát bây giờ) ông đã gọi đủ bảy người gồm vợ và thê thiếp, khuyên họ khi ông chết nên tái giá vì họ còn trẻ, nhưng cả bảy người không nghe và họ đã tuẫn tiết trước ngựa của ông, ở thôn Hậu ái bây giờ còn miếu thờ bảy bà nàng, không xa mộ của ông là mấy (đã được nhà nước xếp hạng di tích lịch sử). Hôm đó là ngày 21 tháng 5 âm lịch năm 1216 (Bính Tý). Cũng là sự lưu truyền, trước lúc nhay xuống sông Hồng, ông đã có lời khấn, nếu ông đúng tội, cả người và ngựa sẽ rời nhau và bị nước cuốn trôi mất, còn nếu như ông vô tội thì cả người và ngựa sẽ không rời nhau và nổi lên. Quả nhiên, chỉ sau ba ngày cả người và ngựa nổi lên và vẫn dính chặt vào nhau. Nỗi oan của ông sau này được giải tỏ, triều đình phong ông làm phúc thần đựợc thờ làm thành hoàng ở thôn Hậu Ái. Các đời vua phong sắc: Tế Thế Hựu Dân, Hiền Lương Dực Bảo, Khai Quốc Đại Vương...

Về bi kịch này, Phan Huy Chú đã viết: “Vỗ về dân xã, dẹp yên giặc giã, dự hàng công lớn mà bỏ mình vì bọn quyền thần tàn bạo”.

Đình Hậu Ái[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Đình làng Hậu Ái

Đình Hậu Ái thờ Thủy thần và người làng là Thái úy Đỗ Kính Tu. Ngài đỗ đầu khoa thi Tam giáo đời Lý Anh Tông (1138 - 1175), sau cùng Tô Hiến Thành phụ chính cho vua, được ban quốc tính.

Ðình vốn là một ngôi đền cổ được dựng trên đất nhà Ngài để làm nơi thờ tự. Đến năm 1914, nhân dân tu sửa đền thành đình.

Kiến trúc[sửa | sửa mã nguồn]

Ngôi đình Hậu Ái xây dựng trên khu đất cao, rộng giữa làng, phía trước có hồ rộng gọi là ao Đình, xung quanh có nhiều cây cổ thụ.

Đình Hậu Ái

Cổng đình có hai cột hoa biểu cao, phía trên mang hình lồng đèn, đắp tứ linh, hổ phù, tận cùng là bốn chim phượng hoàng chụm đuôi lại. Từ trụ biểu, xây tường ra hai bên, giữa tường trổ cửa phụ vòm cuốn, mái chồng diêm.

Qua hiên, vào sân hai bên là hai dãy tả vũ, hữu vu đều co sáu gian, tường hồi bít đốc, các vì kèo làm kiểu quá giang trên cột gạch.

Phía cuối sân là tòa đại đình dàn ngang năm gian, hai mái. Trên bờ nóc đắp đôi rồng chầu mặt trời. Bộ vì kèo kiểu năm hàng cột để mái trước đình mở rộng, các cột gắn bó với nhau theo kết cấu “thượng giường hạ kẻ”.

Các thành phần kiến trúc được chạm tứ linh (long, ly, quy, phượng), hổ phù, hoa lá với đường nét mềm mại theo phong cách nghệ thuật thời Nguyễn. Từ gian giữa đại đình chạy học về phía sau là tòa hậu cung tạo thành hình chữ “đinh”. Bộ khung hậu cung chắc chắn, các vì kèo theo kiểu ‘thượng giường hạ bẩy”, nhiều chỗ được chạm rồng, mây, hoa lá như ở đại đình. Hậu cung được ngăn đôi bằng hệ thống cửa bức bàn sơn son, vẽ hình rồng, phượng, rùa, lân.

Phần mộ của Đức thánh làng Hậu Ái - Lý Kính Tu

Phía trong cung cấm có khám thờ với tượng thành hoàng Đỗ Kính Tu. Nhang án trên có long ngai, bài vị. Phía ngoài bầy bộ kiệu giá ngự, các đồ tự khí như bát bửu, cờ năm màu…

Trên thượng lương ghi rõ đình làm lại năm Giáp Dần, niên hiệu Duy Tân thứ 8. Kiến trúc đình Hậu Ái thuộc đầu thế kỷ XX và được bổ sung một số hiện vật như cuốn thần phả do tiến sỹ Nguyến Bá Đôn, người cùng xã Vân Canh, soạn năm Tự Đức thứ 12 (1859) cùng với sáu bức hoành phi và tám câu đối.

Di sản[sửa | sửa mã nguồn]

Hậu cung đình Hậu Ái còn lưu giữ được 5 đạo sắc gồm: 3 đạo phong chung cho Thủy thần và Thái úy Đỗ Kinh Tu vào các ngày 24 tháng Một năm Tự Đức thứ 33 (1880), mồng một tháng Bảy năm Đồng Khánh thứ 2 (1887), 11 tháng Tám năm Duy Tân thứ 3 (1909), 2 đạo phong riêng cho các vị thần, cùng vào ngày 25 tháng Bảy năm Khải Định thứ 9 (1924).

Trước cửa đình Hậu Ái có bia "Đồng Khấu thạch kiều bi ký" hình trụ với hai mặt chữ chân phương, xưa dựng ở ngoài đồng. Bia được lập vào ngày lành tháng Tám năm Vĩnh Hựu nguyên niên (1735), do người làng Kim Hoàng là tiến sĩ Trần Hiền soạn, ghi việc Trần Hiền cùng mẹ với hai bà vợ và nhiều quan chức góp tiền của xây dựng cầu Đá Năng (Đồng Trầm), cầu Đọ (trên đường sang Lại Yên) và cầu Ván (ở giữa đồng làng Kim Hoàng). Trong đình lại có 2 tấm bia từ Văn chỉ chuyển về, ghi danh những người Hậu Ái từng đỗ đạt.

Một số câu đối tại đình làng.

“Thánh địa đốc sinh hiền văn võ tài du vi quốc bảo.

Đăng sơn nan vãn nhật anh hùng phá giang lưu”

Nghĩa là:  “Nơi thánh địa ắt sinh ra người hiền. Mưu tài văn võ là của quí cho đất nước”

"Chính khí ngật ngang lưu, ẩn ước trùng ba nhân mã ảnh

Anh thanh tồn Lý sử, thanh cao di tượng tử phần gian"

Nghĩa là: "Chính khí trùm sông nước sóng dồn ẩn hiện bóng người ngựa. Danh thơm còn trong sử đời Lý nơi quê cũ còn pho tượng thanh cao"

"Kính tế lịch tam triều, danh lưu giản sách

Gian trịnh trì nhất tiết, khí tác giang hà"

Nghĩa là: "Giúp nước cứu đời trải qua 3 đời vua, tên tuổi ghi sử sách. Trung trinh giữ vững một tiết, chí khí sừng sững sông nước"

Cùng với đình Hậu Ái, ở địa phương vẫn còn giữ được phần mộ của Đỗ Kính Tu, gò Mả Am là phần mộ tổ của ông và Mả Nàng là nơi các tỳ thiếp chết theo ông. Đình Hậu Ái và khu lăng mộ Đỗ Kính Tu đều đã được Bộ VHTT xếp hạng di tích văn hóa lịch sử cấp quốc gia năm 1989.

Lễ hội[sửa | sửa mã nguồn]

Lễ hội làng Hậu Ái được dân sở tại tổ chức hàng năm vào ngày 28 tháng 5 âm lịch.

Từ năm 1994 nhân dịp kỉ niệm 5 năm đình được công nhận di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia, nhân dân đặt lệ sau 5 năm, làng tổ chức hội qui mô lớn vào 3 ngày 6-8/2 âm lịch với đám rước kiệu truyền thống từ Đình làng ra khu lăng mộ Ngài.

Tại đình làng và mả Am, diễn ra các nghi lễ tưởng nhớ công đức của thành hoàng, sau đó là các trò vui dân gian,...Các gia tộc mang bánh tro, bánh dày, bánh chay... đến đình để mời những người tham dự.

Chùa Hậu Ái[sửa | sửa mã nguồn]

Chùa làng Hậu Ái tên chữ là Đại Ý Tự. Căn cứ vào tấm bia "Hậu Phật bi ký" còn lưu lại nơi đây có thể đoán rằng chùa được xây từ trước năm 1733.

Chùa Đại Ý cỏ từ thời Lê và đã trải qua nhiều lần sửa chữa, tôn tạo. Sau lần trùng tu năm 1993 dáng vẻ chủ yếu vẫn mang phong cách nghệ thuật kiến trúc thời Nguyễn.

Chùa toạ lạc ở ven con đường DT143 nối ngã tư Canh với ngã tư Sơn Đồng. Mặt tiền khá hẹp nhưng khuôn viên dài và nở hậu.

Tam Quan Chùa Hậu Ái (Đại Ý Tự)

Kiến trúc[sửa | sửa mã nguồn]

Tam quan nằm cạnh gốc đa, gồm 3 cửa vòm quay về phía tây nam, không có gác chuông, khoang giữa xây hai tầng tám mái, tất cả đều đắp ngói ống giả.

Từ cổ̉ng vào theo một con đường thẳng lát gạch đỏ, khách đi giữa hai hàng cau gầy cao vút đến sân trước, bên trái có nếp nhà khách 5 gian. Toà tiền đường gồm 3 gian 2 dĩ, tường hồi bít đốc, kết nối với hậu cung thành hình chuôi vồ. Bên trái là ao và cánh đồng, bên phải là nhà tổ hình chuôi vồ cũng 5 gian, mặt nhìn ra phía đông nam nơi có cổng hậu.

Di sản[sửa | sửa mã nguồn]

Hệ thống tượng Phật giáo trong chùa khá đầy đủ và đã được tô lại.

Trong chùa Đại Ý hiện lưu giữ được một bia đá đề 4 tên "Hậu Phật Bi Ký". Tấm bia khá nhỏ, mỗi mặt có 7 hàng chữ, mỗi hàng chỉ gồm 20 chữ. Bia được dựng ngày 12 tháng Ba năm Long Đức thứ hai (1733), về sau được lập lại ngày mồng 7 tháng Ba năm Minh Mệnh thứ sáu (1825). Nội dung văn bia ghi về việc vào niên hiệu Long Đức (1732-1734), bà Lê Thị, hiệu Từ Trí, vợ một viên Cẩn sự Tá long đã hiến cho làng 1 mẫu 9 sào ruộng, được dân sở tại tôn làm Hậu Phật.

Trong chùa còn một quả chuông đồng, trên đó có bài minh "Đại Ý Tự Chung" (chuông chùa Đại Ý) được khắc ngày 17 tháng Một năm Bính Thân niên hiệu Minh Mệnh (1836). Nội dung ghi việc đúc lại chuông và danh sách công đức, trong đó có Tuần phủ Hưng Hóa và cả nhiều người sống ở các phường thuộc tỉnh Hà Nội như Diên Hưng, Hà Khẩu...Bài minh chuông cũng cho biết ở thời vua Minh Mệnh làng Hậu Ái đã khá đông dân vì có tới 4 giáp, nhưng không ghi tên từng giáp. Căn cứ theo tài liệu khác thì đến sau đời Đồng Khánh (1886-1888) làng Hậu Ái có thêm một giáp mới, cụ thể gồm 5 giáp là: Đông, Đoài, Đoài Nhất, Đông Thượng, Đông Nguyễn.

Ngày 18 tháng 2 năm 2013 UBND TP Hà Nội đã xếp hạng chùa Hậu Ái là một Di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật cấp thành phố.

Nhà lưu niệm Bác Hồ ở Hậu Ái[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà Lưu niệm Bác Hồ ở Hậu Ái

Xã Vân Canh có truyền thống cách mạng ngay từ buổi đầu cuộc kháng chiến chống Pháp. Từ những năm 1928 - 1929, một số thanh niên trí thức Vân Canh đã được các đồng chí Nguyễn Phong Sắc, Lều Thọ Nam dìu dắt vào con đường đấu tranh cách mạng. Từ cuối năm 1941, Vân Canh thành điểm an toàn của Xứ ủy Bắc kỳ. Một số chiến sỹ cộng sản Vân Canh đã mở trường Hứa Do ở làng Hậu Ái để thu hút thanh niên, thiếu niên vào trường học cánh mạng. Năm 1943, đồng chí Nguyễn Khang, quyền bí thư Xứ ủy khởi xướng phong trào Truyền bá quốc ngữ, lập Hội truyền bá quốc ngữ cho cả vùng Canh do nhà văn Trúc Khê làm hiệu trưởng, lấy trường Hứa Do làm trụ sở. Tháng 8.1945, khởi nghĩa giành chính quyền ở làng xong, quần chúng cách mạng vùng Canh do đồng chí Trương Thị Mỹ dẫn đầu đi giành chính quyền ở phủ lỵ Hoài Đức và thủ đô Hà Nội.

Tuy nhiên, tới gần cuối năm 1946, thực dân Pháp ngày càng bộc lộ dã tâm muốn xâm lược nước ta một lần nữa. Chúng bắt đầu gây hấn ở Hải Phòng, rồi Lạng Sơn và cả ở Thủ đô Hà Nội. Nguy cơ một cuộc chiến tranh trên phạm vi cả nước đã gần kề. Trước tình hình như vậy, nhiều đêm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra làm việc và nghỉ ở vùng ngoại ô Hà Nội. Tới đêm 26.11.1946, Hồ Chủ tịch đã cùng cơ quan chính thức chuyển đến làng Hậu Ái, khi đó thuộc vùng an toàn khu của Xứ ủy Bắc kỳ, cách Hà Nội hơn 10 km. Người cùng cơ quan bí mật ở và làm việc tại ngôi nhà của cụ Nguyễn Thông Phúc, một gia đình cách mạng. Khu đất của gia đình rộng ba sào rưỡi, có ngôi nhà chính gồm 2 tầng, được xây dựng từ năm 1922, là địa điểm của trường tư thục Hứa Do. Một số cán bộ cách mạng đã dạy và nhiều quần chúng cứu quốc đã học tập tại trường. Ngoài ra, trên khu đất này còn có một ngôi nhà thờ của chi họ và một dãy nhà ngang. Trước đó, ngày 4 - 5.3.1946, tại dãy nhà ngang này, Hội nghị Trung ương Đảng đã họp, thông qua quyết định ký Hiệp định Sơ bộ ngày 3.3.1946, tạm hòa với Pháp.

Không còn có thể hòa với Pháp được nữa, lần này trở lại ở và làm việc tại đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các đồng chí Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Lê Đức Thọ nhiều lần họp bàn, trao đổi, giải quyết nhiều công việc hệ trọng của đất nước, khẩn trương chuẩn bị cho cuộc kháng chiến. Tại căn phòng tầng 2 ngôi nhà chính của cụ Nguyễn Thông Phúc, trụ sở của trường Hứa Do cũ, trong thời gian từ ngày 26.11 - 3.12.1946, Hồ Chủ tịch đã ký nhiều văn kiện quan trọng, như Quyết định thành lập Bộ Lao động, Lời kêu gọi đồng bào thành lập Nghĩa thương để chuẩn bị cho kháng chiến lâu dài, và đặc biệt là ấn định hình phạt về tội đưa và nhận hối lộ.

Đến ngày 3.12.1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh rời Vân Canh, chuyển về ở và làm việc tại làng Vạn Phúc, thị xã Hà Đông...

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]