Lâm Y Thần

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Lâm Y Thần
林依晨
2008TIBE Day4 Hall1 CitéGroup TheyKissAgain SigningEvent Ariel Yi-cheng Lin.jpg
Lâm Y Thần trong buổi quảng bá cho Thơ Ngây 2 năm 2008
Sinh29 tháng 10, 1982 (39 tuổi)
Nghi Lan, Đài Loan  Đài Loan
Tên khácAriel Lin
Học vị
  • Cử nhân ngành Ngôn ngữ Hàn
  • Thạc sĩ ngành Diễn xuất
Nghề nghiệp
Năm hoạt động2002 - nay
Tác phẩm nổi bật
Chiều cao1,60 m (5 ft 3 in)
Phối ngẫuLâm Vu Siêu
Giải thưởng43rd Golden Bell Awards:
Nữ diễn viên xuất sắc nhất cho phim Thơ Ngây 2 (2007 - 2008)


47th Golden Bell Awards:
Nữ diễn viên xuất sắc nhất cho phim Có lẽ anh sẽ không yêu em (2011)

Lâm Y Thần (chữ Hán: 林依晨, tên tiếng Anh: Ariel Lin, sinh ngày 29 tháng 10 năm 1982) là nữ diễn viên, ca sĩ người Đài Loan. Cô đã tạo ấn tượng cho khán giả màn ảnh nhỏ với nhiều vai diễn trong các phim Phi dược tình hải 2003, Những cô gái kungfu 2003, Khu vườn bí mật 2003 và 2004, Hiệp ước tình yêu 2004, Thơ Ngây (2005 - 2006) và (2007 - 2008), Thiên ngoại phi tiên 2006, Nàng Juliet phương Đông 2006, Anh hùng xạ điêu 2008, Có lẽ anh sẽ không yêu em 2011,…

Tuổi thơ[sửa | sửa mã nguồn]

Lâm Y Thần sinh ra ở Nghi Lan, Đài Loan trong một gia đình có thu nhập trung bình. Cô ấy có một em trai. Ngay từ khi Lâm Y Thần còn nhỏ, bố mẹ cô đã ly thân, đến năm cô học trung học thì bố mẹ quyết định ly hôn (Lâm Y Thần đã giúp hòa giải bố mẹ cô vào năm 2014[1]). Cô cùng em trai sống chung với mẹ từ nhỏ trong gia cảnh nghèo khó khi đó cho đến cuộc sống êm ấm hiện tại.[2]

Những ngày tuổi thơ của Lâm Y Thần là chuỗi ngày khá khốn khó. Cô bắt đầu được nhiều người biết tới khi đăng quang hoa khôi tại cuộc thi người đẹp do báo Tiệp Vận của thành phố Đài Bắc tổ chức vào năm 2000[3]. Nhưng ít người biết rằng, mục đích của Lâm Y Thần tham gia cuộc thi đó chỉ là để mua cho em trai một chiếc máy tính [4]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Diễn viên[sửa | sửa mã nguồn]

Nhân vật trang bìa tháng 2 năm 2001 của ELLE - Lâm Y Thần

Sau khi giành ngôi vị hoa khôi của cuộc thi người đẹp do báo Tiệp Vận tổ chức, Lâm Y Thần tiếp tục việc học của mình. Sau khi tốt nghiệp trung học năm 2001, cô được nhận vào Khoa Hàn Quốc của Đại học Chính trị Quốc gia (Đài Loan) - trường đại học hàng đầu ở Đài Loan[5], và chính thức bước chân vào làng giải trí khi còn học đại học. Thời gian đầu, cô tham gia làm người mẫu cho các hợp đồng quảng cáo, đóng các MV đầu tiên trong năm 2001. Cùng năm, Lâm Y Thần tham gia bộ phim đầu tiên Hẹn ước tuổi 18 (18 Tuế đích ước định) (bộ phim phát sóng từ ngày 1/4/2002 đến ngày 29/4/2002) của Đài Loan và bắt đầu nổi danh với tư cách một diễn viên phim truyền hình.[6]

Từ đó, Lâm Y Thần đã tham gia gần rất nhiều bộ phim truyền hình và điện ảnh khác nhau. Cô được đề cử cho giải nữ diễn viên xuất sắc nhất tại Lễ trao giải Kim Mã lần thứ 40[7] cho vai nữ chính trong phim điện ảnh đầu tiên của cô mang tên Phi dược tình hải (Love Me If You Can) (phim ra rạp vào ngày 14/2/2004)[8]. Cô trở nên nổi tiếng hơn sau khi tham gia các bộ phim thần tượng Khu vườn bí mật 2003, Học sinh lớp 7 2003 và Khu vườn bí mật II 2004[9].

Ngay sau đó bộ phim thần tượng Hiệp ước tình yêu 2004 (Love Contract, phát sóng từ ngày 29/6/2004 đến ngày 29/7/2004) của cô và đàn em Hạ Quân Tường đã đánh dấu bước đột phá lớn trong sự nghiệp của cô. Bộ phim đã khắc họa cho người xem rõ nét về tình yêu bình dị, mộc mạc, đơn giản, đẹp thuần khiết, không cần phô trương, hoa mỹ, vĩ đại. Bộ phim đạt rating cực cao nửa cuối năm 2004 ở Đài Loan[10][11]. Song song với đó, bài hát Cô đơn Bắc bán cầu cuối bộ phim Hiệp ước tình yêu do Lâm Y Thần trình bày đứng đầu bảng xếp hạng KTV và nhạc chuông trong 12 tuần lễ[12]. Cô đơn Bắc bán cầu cũng trở thành bài hit phổ biến rộng rãi khắp Đài Loan từ nửa cuối năm 2004 (đến giữa năm 2006 mới giảm đi độ hot vì khi đó Lâm Y Thần cho ra đời bài hit khác là It Had To Be You - nhạc phim Nàng Juliet phương đông 2006), trở thành bài hát giàu cảm xúc nhất trong suốt sự nghiệp của Lâm Y Thần (bài hát mà cô luôn hát đi hát lại nhiều lần nhất so với các bài hát khác của cô)[13].

Từ ngày 6 tháng 8 năm 2004 đến ngày 9 tháng 6 năm 2005 Lâm Y Thần hợp tác cùng Trịnh Nguyên Sướng (bạn thân của Hạ Quân Tường) bắt đầu quay bộ phim thần tượng Đài Loan nổi tiếng Thơ Ngây 1 (It Started With A Kiss) (bộ phim phát sóng vào 22:00 ngày Chủ nhật hàng tuần từ ngày 25/9/2005 đến ngày 12/2/2006)[14]. Lâm Y Thần đã trở nên nổi tiếng nhờ vai Viên Tương Cầm trong bộ phim này. Bộ phim đứng đầu bảng xếp hạng ở Đài Loan và thành công vang dội trên toàn châu Á, đưa tên tuổi Lâm Y Thần vang đến Trung Quốc đại lục [15][16]. Trong thời gian này, Lâm Y Thần cũng đi học võ karate để phòng thân, vừa giúp ích cho những vai diễn của cô có cảnh đánh đấm sau này[17].

Với sự nỗ lực hết mình để tạo nên những vai diễn giàu cá tính, Lâm Y Thần ngày càng được khán giả chú ý và đánh giá cao về khả năng diễn xuất, cá tính của cô rất có sức hút với công chúa. Cô được coi là một trong những nữ diễn viên phim thần tượng đắt giá nhất của Đài Loan.

Áp phích bộ phim Thiên ngoại phi tiên 2006

Tháng 3 năm 2005 Lâm Y Thần tạm ngưng quay Thơ Ngây 1 để sang Trung Quốc vào vai nữ chính trong bộ phim truyền hình Trung Quốc đầu tiên của cô - Thiên ngoại phi tiên 2006 (bộ phim phát sóng từ ngày 25/1/2006 đến ngày 20/3/2006 tại Đài Loan) (với Hồ Ca là nam chính), nơi cô đóng vai Tiểu Thất[18]. Bộ phim cực kỳ nổi tiếng và có xếp hạng cao, đánh dấu bước đột phá thành công của cô vào thị trường Trung Quốc[19]. Khi quay bộ phim Thiên ngoại phi tiên này, Lâm Y Thần là người bay nhiều nhất: Thứ hai hàng tuần cô quay phim từ 6h sáng đến 11h trưa, sau đó 14h cô bay sang Hồng Kông, rồi mới bay về Đài Loan để chiều tối kịp tham gia lớp học ở Đại học của cô (từ sáng thứ ba đến sáng thứ năm hàng tuần cô cũng cố gắng quay vài cảnh cho Thơ Ngây 1), đến tối thứ 5 sau khi học xong, cô liền bay sang Hồng Kông, rồi bay tiếp sang Trung Quốc, chỉ có từ thứ sáu đến chủ nhật là cô toàn tâm quay bộ phim Thiên ngoại phi tiên này[20]. Những ngày mà Lâm Y Thần bận quay phim ở Trung Quốc không thể về Đài Loan đi học được, một số bạn học của cô ấy trong Khoa Văn học Hàn Quốc tại Đại học Chính trị Quốc gia đã tích cực chép bài dùm cho cô ấy, để khi cô ấy về Đài Loan có nội dung để ôn thi tốt nghiệp Đại học[21]. Thời gian đó (trong tháng 3 năm 2005), đoàn phim Thần điêu đại hiệp mời Lâm Y Thần vào vai Tiểu Long Nữ nhưng bị cô từ chối ngay vì hai bộ phim Thiên ngoại phi tiênThơ Ngây của cô chưa quay xong, cộng với việc cô còn phải đi học Đại học. Sau đó Lưu Diệc Phi (nhỏ hơn Lâm Y Thần 5 tuổi) được chọn vào vai Tiểu Long Nữ[22]. Tháng 5 năm 2005 cô quay xong Thiên ngoại phi tiên thì về Đài Loan mới tiếp tục quay Thơ Ngây 1 với Trịnh Nguyên Sướng và tiếp tục cho việc học ở trường Đại học[23].

Sau khi tốt nghiệp cử nhân văn chương Khoa Văn học Hàn Quốc tại Đại học Chính trị Quốc gia vào ngày 4 tháng 6 năm 2005 (cô vừa quay phim vừa đi học)[24], Lâm Y Thần tập trung vào quay cho xong Thơ Ngây 1[25]. Khi đó cô còn phải động viên Uông Đông Thành ráng quay cho xong bộ phim Thơ Ngây (gia cảnh Uông Đông Thành khi đó gặp khó khăn mà phim quay gần 1 năm chưa xong, Uông Đông Thành định bỏ nghề ra làm công việc khác) rồi sẽ được thành quả sau này (Vào năm 2010 trong buổi ra mắt cuốn sách viết về sự nghiệp đỉnh cao của bản thân, Uông Đông Thành chia sẻ câu chuyện này và cảm ơn Lâm Y Thần rất nhiều vì những lời động viên khi ấy của cô dành cho anh)[26]. Đến ngày 8 tháng 8 năm 2005 thì bộ phim Thơ Ngây quay xong[27]. Lâm Y Thần sau đó đã cho xuất bản cuốn sách cá nhân đầu tiên của mình "Blog thanh xuân của cô gái họ Lâm" (Ariel's Blog) vào ngày 9 tháng 9 cùng năm, kể về hơn 4 năm vào làng giải trí của cô[28].

Đầu năm 2006, cô vào vai chính trong bộ phim thần tượng Đài Loan khác là Nàng Juliet phương Đông (bộ phim phát sóng vào Thứ bảy hàng tuần từ ngày 3/6/2006 đến ngày 23/9/2006) cùng với Ngô Tôn[29]. Ca khúc It Had To Be You trong phim Nàng Juliet phương Đông do Lâm Y Thần trình bày tiếp tục trở thành bài hit nổi tiếng sau ca khúc Cô đơn Bắc bán cầu 2004[30]. Cuối tháng 7 năm 2006 Lâm Y Thần sang Trung Quốc quay Anh hùng xạ điêu với Hồ Ca. Khi Anh hùng xạ điêu đang quay dang dở thì bị dừng do Hồ Ca bị tai nạn giao thông phải khâu 100 mũi trên khuôn mặt cuối tháng 8 năm 2006[31]. Lâm Y Thần phải về Đài Loan. Cuối tháng 9 năm 2006, Lâm Y Thần đến Học viện Điện ảnh New York để học tập ngắn hạn cho một tháng (đầu tháng 11 năm 2006 cô về Đài Loan)[32].

Bộ phim Thơ Ngây 2 (They Kiss Again) của Lâm Y Thần và Trịnh Nguyên Sướng được khởi quay từ ngày 26 tháng 3 năm 2007[33]. Thời gian đó Lâm Y Thần luôn giúp đỡ cho Hồ Ca khi Hồ Ca đang gặp giai đoạn khó khăn nhất trong sự nghiệp[34], luôn ủng hộ và động viên Hồ Ca quay lại nghề diễn viên (Sau này trong các chương trình truyền hình, Hồ Ca luôn chia sẻ lại những gì Lâm Y Thần giúp đỡ anh vào thời gian đó và anh rất cảm ơn Lâm Y Thần về điều đó. Cho đến nay Hồ Ca luôn nhắc mãi hai câu Lâm Y Thần tặng cho anh: "1. Diễn xuất là quá trình khai phá nhân tính của nhân vật; 2. Dùng cả sinh mệnh để diễn xuất")[35]. Đến tháng 8 năm 2007, Hồ Ca lấy lại tinh thần, lành lại khuôn mặt sau vụ tai nạn giao thông vào năm ngoái thì quay lại phim trường Anh hùng xạ điêu để đóng tiếp vai Quách Tĩnh[36]. Lâm Y Thần liền bay từ Đài Loan, trung chuyển qua Hồng Kông, qua Trung Quốc, tiếp tục vào vai Hoàng Dung để quay cho xong bộ phim còn dang dở[37]. Phim Thơ Ngây 2 phải tạm ngưng (y như hồi Thơ Ngây 1 cũng phải tạm ngưng để Lâm Y Thần sang Trung Quốc quay Thiên ngoại phi tiên với Hồ Ca vào năm 2005). Đầu tháng 12/2007 Lâm Y Thần quay xong Anh hùng xạ điêu[38] thì lập tức bay về Đài Loan tiếp tục quay phim Thơ Ngây 2 (They Kiss Again} với Trịnh Nguyên Sướng[39]. Ngày 16 tháng 12 năm 2007 bộ phim Thơ Ngây 2 (They Kis Again) đã được đưa lên sóng các tập đầu tiên và đoàn phim phải làm việc cật lực để ra các tập phim phát sóng liên tục trên truyền hình[40]. Khi đó Lâm Y Thần và Trịnh Nguyên Sướng gần như phải quay suốt 24/24 trong ngày. Ngày 19 tháng 1 năm 2008, đoàn phim quay xong cảnh cuối của Thơ Ngây 2 (They Kiss Again). Bộ phim Thơ Ngây 2 (They Kiss Again) (2007 - 2008) này giúp Lâm Y Thần đoạt giải Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất phim truyền hình tại Lễ trao giải Kim Chung lần thứ 43 năm 2008[41].

Từ trái qua phải: Trịnh Nguyên Sướng, Lâm Y Thần, ca sĩ Tăng Thiếu Tông và đạo diễn Cù Hữu Ninh trong buổi quảng bá cho bộ phim Thơ Ngây 2 (They Kiss Again) (2007 - 2008) vào ngày 16 tháng 2 năm 2008
Áp phích bộ phim Anh hùng xạ điêu 2008

Sau khi hai bộ phim Thiên ngoại phi tiên 2006 và Anh hùng xạ điêu được lên sóng (hai bộ phim mà cô hợp tác cùng Hồ Ca), danh tiếng của Lâm Y Thần cũng ngày càng có sức ảnh hưởng rộng rãi ở Trung Quốc đại lục.

Lâm Y Thần bị cận thị nặng (-7,0D) và đeo kính áp tròng[42]. Sau khi phải làm việc quá sức và chịu áp lực tinh thần quá nhiều suốt nhiều năm trời (từ việc quay các bộ phim truyền hình, quay các phim điện ảnh, quay các MV ca nhạc, lồng tiếng các phim nước ngoài, tham gia rất nhiều variety show, chương trình truyền hình, quảng cáo rất nhiều sản phẩm, quảng cáo rất nhiều TV Commercial trên TV, sáng tác nhiều ca khúc, viết sách và phát hành sách, rồi còn phải tổ chức nhiều cuộc họp báo để phủ nhận các tin đồn từ công chúng về chuyện tình ái của bản thân cô với các diễn viên nam như Trương Duệ Gia, Hạ Quân Tường, Trịnh Nguyên Sướng, Hồ Ca, Ngô Tôn,...), vào tháng 6 năm 2008 Lâm Y Thần đã bị vỡ mạch máu não và cô phải đi bệnh viện. Sau khi được bác sĩ kiểm tra phát hiện trong não của cô có khối u, không phẫu thuật cô sẽ bị mù[43].

Tháng 2 năm 2009, nữ diễn viên này đã bí mật trải qua một ca phẫu thuật não để lấy khối u trong não ra (cô thậm chí viết sẵn di chúc để lại tài sản cho mẹ và em trai nếu ca phẫu thuật không may) [44]. May mắn là ca phẫu thuật của cô thành công và cô phải tạm ngừng mọi hoạt động để đợi tới khi sức khỏe bình phục hoàn toàn. 

Sau khi hồi phục, cô tham gia ngay vào phim truyền hình Có lẽ anh sẽ không yêu em 2011 (ghép đôi với Trần Bách Lâm trong bộ phim)[45]. Bộ phim này giúp Lâm Y Thần đoạt giải Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất phim truyền hình tại Lễ trao giải Kim Chung lần thứ 47 năm 2012[46] và đoạt luôn giải Ngôi sao lớn châu Á ở Liên hoan phim Quốc tế Seoul năm 2015[47]. Sau đó cô tham gia thêm vài bộ phim truyền hình nữa như Lan Lăng Vương 2013 (ghép đôi với Phùng Thiệu Phong trong bộ phim)[48], Lão nam hài/Già gân và mĩ nhân 2016 (ghép đôi với Lưu Diệp trong bộ phim)[49]Tiểu nữ Hoa Bất Khí (ghép đôi với Trương Bân Bân trong bộ phim)[50]. Thời gian còn lại, cô chú trọng tham gia nhiều phim điện ảnh hơn phim truyền hình.

Ca sĩ[sửa | sửa mã nguồn]

Sau những thành công với tư cách là một diễn viên, vào tháng 5/2009, Lâm Y Thần gia nhập công ty âm nhạc Avex và đến 10/7/2009 cô đã phát hành album đầu tiên mang tên “Xingfu Yujian”[51]. Trước album này, Lâm Y Thần đã cho ra mắt nhiều ca khúc cô thực hiện trong các bộ phim truyền hình của mình. Tuy nhiên, việc ra album đầu tiên của mình với tư cách là ca sĩ của Lâm Y Thần vẫn được các fan hâm mộ chào đón nhiệt thành[52].

Đời sống cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Lâm Y Thần từng tiết lộ rằng, cô từng có bạn trai trong thời gian học đại học. Sau khi chia tay với người bạn trai này, cô còn có thêm một vài mối quan hệ tình cảm khác nhưng những người này đều để lại cho cô những kỷ niệm buồn[53].

Năm 2010 Lâm Y Thần tuyên bố đang hẹn hò với doanh nhân Trịnh Gia Nghiêu và sang tháng 7 năm 2011 Lâm Y Thần tuyên bố dừng đóng phim để dành thời gian cho bạn trai cùng gia đình cô[54]. Nhưng đến tháng 11 năm 2011 Lâm Y Thần tuyên bố đã chia tay Trịnh Gia Nghiêu[55].

Sang tháng 8 năm 2012 Lâm Y Thần tuyên bố với truyền thông đang hẹn hò với doanh nhân Lâm Vu Siêu (Charles Lin)[56], người có tuổi tác tương đương với Lâm Y Thần.

Lâm Y Thần kết hôn với doanh nhân Lâm Vu Siêu (Charles Lin) vào ngày 24 tháng 12 năm 2014[57][58]. Họ đã quen biết nhau hơn 10 năm (từ hồi còn học cấp 3 vào năm 2000) nhưng cả hai chỉ mới chính thức hẹn hò nhau từ tháng 1 năm 2012 (tháng 8 năm 2012 Lâm Y Thần mới công khai trước truyền thông[59]) sau khi cùng làm phụ dâu và phụ rể cho đám cưới người em họ của Lâm Y Thần (Lâm Vu Siêu là bạn cùng trường cấp ba với em họ của Lâm Y Thần)[60].

Âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Album[sửa | sửa mã nguồn]

  • "Adventure of Lunia" (19/11/2007)
  • "Blissful Encounter" (10/7/2009)
  • "A Wonderful Journey" (21/8/2010)

Bài hát[sửa | sửa mã nguồn]

  • 2005:
    • The Way Home (歸途) trong April Snow (phim Hàn Quốc bản tiếng Hoa) (2005) (Lâm Y Thần tự viết lời bát hát tiếng Hoa dựa trên bài tiếng Hàn và trình bày)
    • 惡作劇 trong Thơ Ngây 1 (2005) (Lâm Y Thần trình bày bài hát này trong các chương trình đặc biệt của bộ phim và các buổi quảng bá cho bộ phim)

MV đã đóng[sửa | sửa mã nguồn]

  • 2001:
    • Believe - 相信 (May day - 五月天) 2001
    • Lonely Flight - 寂寞飛行 (Maggie Chiang - 江美琪) 2001
    • Nunchuks - 雙截棍 (Jay Chow 周杰倫) 2001
    • Paper Flight - 紙飛機 (Sandy Lam - 林憶蓮) 2001
  • 2002:
    • MAKE A WISH (Vic Chou - 周渝民) 2002
    • Love Guardian 鎮守愛情 (Power Station - 動力火車) 2002
    • Angel (David Tao - 陶吉吉) 2002
  • 2003:
    • Friends 名扬四海 - Rainbow (You Chiu-Hsing 尤秋興 của Power Station 動力火車) 2003
    • She's having my baby (Tension) 2003
  • 2004:
    • Secret Garden II 我的秘密花園 II - Innocent Faces (Zhang Jian) 2004 (Lâm Y Thần ghép đôi với Trương Thiên Lâm)
    • Cha Cha (Secret Garden II OST - 我的秘密花園 II 電視原聲帶) 2004 (Lâm Y Thần - 林依晨, Dương Cẩn Hoa - 杨谨华, Lương Hựu Lâm - 梁又琳, Lâm Lập Văn - 林立雯, Trương Thiên Lâm - 张天霖 và Lý Nhạc - 李岳 trình bày) (Lâm Y Thần ghép đôi với Trương Thiên Lâm).
    • Cô đơn Bắc bán cầu/Love Contract 愛情合約原聲帶-孤單北半球 2004 (Lâm Y Thần - 林依晨 trình bày) (Lâm Y Thần ghép đôi với Hạ Quân Tường)
    • Love Contract 愛情合約原聲帶-中間 (Fish Leong - 梁静茹) 2004 (Lâm Y Thần ghép đôi với Hạ Quân Tường)
    • Love Contract 愛情合約原聲帶 - Shinning (丸子) 2004 (Lâm Y Thần ghép đôi với Hạ Quân Tường)
    • Love Contract 愛情合約原聲帶 - 失去 (A-Yue 張震嶽) 2004 (Lâm Y Thần ghép đôi với Hạ Quân Tường)
    • Love Contract 愛情合約原聲帶 - 關於我們之間的事 (A-Yue 張震嶽) 2004 (Lâm Y Thần ghép đôi với Hạ Quân Tường)
    • Love Contract 愛情合約原聲帶 - 中間(鋼琴版)(潘協慶) 2004 (Lâm Y Thần ghép đôi với Hạ Quân Tường)
    • Cô đơn Bắc bán cầu - 孤單北半球 2004 (Lâm Y Thần - 林依晨 trình bày) (Lâm Y Thần ghép đôi với Hạ Quân Tường)
    • Waiting for You - 字幕歌词 (Anson Hu - 胡彦斌) (Love Contract MV) 2004 (Nội dung MV dựa vào nội dung bộ phim Hiệp ước tình yêu 2004) (Lâm Y Thần ghép đôi với Hạ Quân Tường)
    • 白月光 (Jeff Chang - 张信哲) 2004 (Lâm Y Thần lồng tiếng Hàn cho cô bé trong MV)
  • 2005:
    • It Started with a Kiss 惡作劇之吻 - Say you love me (Jason Wang 王威登 & 温岚) 2005 (Lâm Y Thần ghép đôi với Trinh Nguyên Sướng)
    • It Started with a Kiss 惡作劇之吻 - Meet 遇到 (Phương Nhã Hiền - 方雅賢) 2005 (Lâm Y Thần ghép đôi với Trinh Nguyên Sướng)
    • It Started with a Kiss 惡作劇之吻 - Come A Little Closer 靠近一點點 (Lương Tâm Di = 梁心頤) 2005 (Lâm Y Thần ghép đôi với Trinh Nguyên Sướng)
    • It Started with a Kiss 惡作劇之吻 - Can We 能不能 (Jason Wang 王威登 & Lady Wen 溫嵐) 2005 (Lâm Y Thần ghép đôi với Trinh Nguyên Sướng)
    • It Started with a Kiss 惡作劇之吻 - The Whole World Could Hear 全世界的人都知道 (Vương Du Quân - 王俞勻) 2005 (Lâm Y Thần ghép đôi với Trinh Nguyên Sướng)
    • It Started with a Kiss 惡作劇之吻 - Regret 後悔 (Hà Thư Vũ - 何書宇) 2005 (Lâm Y Thần ghép đôi với Trinh Nguyên Sướng)
    • It Started with a Kiss 惡作劇之吻 - 惡作劇 (王藍茵) 2005 (Lâm Y Thần ghép đôi với Trịnh Nguyên Sướng)
    • Born in A Troubled Time - 亂世浮生 (May day - 五月天) 2005 (Lâm Y Thần ghép đôi với Quái Thú)
    • 惡作劇 (王藍茵) 2005 (Lâm Y Thần ghép đôi với Trịnh Nguyên Sướng)
  • 2006:
    • The Little Fairy 天外飛仙 - 一眼萬年 (S.H.E) 2006 (Lâm Y Thần ghép đôi với Hồ Ca)
    • The Little Fairy 天外飛仙 - 千年淚 (Tank) 2006 (Lâm Y Thần ghép đôi với Hồ Ca)
    • The Little Fairy 天外飛仙 - 天亮以後 (Hồ Ca - 胡歌) 2006 (Lâm Y Thần ghép đôi với Hồ Ca)
    • The Little Fairy 天外飛仙 - 古靈精怪 (吳艾倫 & 林靜) 2006 (Lâm Y Thần ghép đôi với Hồ Ca)
    • The Little Fairy 天外飛仙 - 月光 (Hồ Ca - 胡歌) 2006 (Lâm Y Thần ghép đôi với Hồ Ca)
    • The Little Fairy 天外飛仙 - 棋只 2006 (Lâm Y Thần ghép đôi với Hồ Ca)
    • Tokyo Juliet 东方茱丽叶 - 逆風 (花園精靈) 2006 (Lâm Y Thần ghép đôi với Ngô Tôn)
    • Tokyo Juliet 东方茱丽叶 - It Had To Be You 非你莫屬 2006 (Lâm Y Thần - 林依晨 trình bày) (Lâm Y Thần ghép đôi với Ngô Tôn)
    • Good friend - 好朋友 (Alan Luo - 羅志祥) 2006 (Lâm Y Thần ghép đôi với La Chí Tường)

Phim[sửa | sửa mã nguồn]

Phim truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm phát sóng Tựa đề Vai Bạn diễn
2002 18 Tuế đích ước định (Hẹn ước tuổi 18)
18岁的约定
True Love 18
Hạ Hiếu Đồng Thi Dịch Nam
Tăng Sơn Dụ Kỷ
Tử sắc giác lạc
紫色角落
Purple Corner
Stacy
2003 Danh dương tứ hải
名扬四海
Friends
Tiểu Yến Như (Yến Như lúc còn đi học) Trần Tử Cường
Ngã đích bí mật hoa viên (Khu vườn bí mật)
我的秘密花园
Secret Garden
Phạm Tiểu Mẫn Trương Thiên Lâm
Thất niên cấp sinh (Học sinh lớp 7)
七年级生
Seventh Grade
Ngô Nhã Lê Cố Hãn Quân
Trần Đức Liệt
2004 Ngã đích bí mật hoa viên II (Khu vườn bí mật II)
我的秘密花园 II
Secret Garden II
Phạm Tiểu Mẫn Trương Thiên Lâm
Trần Vũ Phàm
Ái tình hiệp ước (Hiệp ước tình yêu)
爱情合约
Love Contract
Thành Hiểu Phong/Tiểu Phong Hạ Quân Tường
Lâm Dật Hoành
Trương Duệ Gia
Cuối 2005 - Dầu 2006 Ác tác kịch chi vẫn (Thơ Ngây)
恶作剧之吻
It Started with a Kiss
Viên Tương Cầm Trịnh Nguyên Sướng
Uông Đông Thành
Thiệu Tường
2006 Thiên ngoại phi tiên
天外飛仙
The Little Fairy/Fairy From Wonderland/Seven of the Sky
Thất công chúa/Long Quang Bưu/Ngọc Tiểu Thất Hồ Ca
TAE
Châu Đức Hoa
Đông phương Thù Lệ Diệp (Nàng Juliet phương Đông)
东方茱丽叶
Tokyo Juliet
Lâm Lai Tuệ/Stephanie Lin Ngô Tôn
2007 Thơ ngây 2 Viên Tương Cầm Trịnh Nguyên Sướng
2008 Anh hùng xạ điêu 2008 Hoàng Dung Hồ Ca
Love or bread Tăng Thiện Mỹ Trịnh Nguyên Sướng
2011 Có lẽ anh sẽ không yêu em Trình Hựu Thanh Trần Bách Lâm
2013 Lan Lăng Vương Dương Tuyết Vũ Phùng Thiệu Phong

Trần Hiểu Đông

2018 Lão nam hài (tên phim chiếu ở Việt Nam: Già gân và mỹ nhân) Lâm Tiểu Âu Lưu Diệp
2018 Tiểu nữ Hoa Bất Khí Hoa Bất Khí Trương Bân Bân

Phim điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tựa đề Vai diễn Bạn diễn
2003 Không Thủ Đạo thiếu nữ tổ (Những cô gái kungfu)
空手道少女組
Kung Fu Girls
Diệp Lệ Châu/Juliet - Châu Lệ Diệp
2004 Phi dược tình hải
飞跃情海
Love Me, If You Can
Lâm Tiểu Anh Vương Dục Nhã (Alice Wang)
Phi dược tình hải chi Phù sinh nhược mộng
飞跃情海之浮生若夢
Free As Love
Lâm Tiểu Anh Vương Dục Nhã (Alice Wang)
2005 Herbie: Fully Loaded
金龟车贺比
Lồng tiếng Hoa cho vai Margaret “Maggie” Peyton
2011 Love Sick Lương Nhược Tình Trần Bách Lâm
2013 Tình yêu trong trái tim tôi Trình Hựu Thanh Trần Bách Lâm
2014 Điềm mật sát khí Cao Y Bình Tô Hữu Bằng
Tình địch của tôi là siêu nhân Tâm Tâm Kha Chấn Đông, Cổ Thiên Lạc
Dive In Love: 2014 Jiang Ai Kha Chấn Đông, Trần Bách Lâm
2015 Nhật ký tìm chồng của Đỗ La La Đỗ La La Châu Du Dân, Trần Bách Lâm
234 lần nói yêu em Giản Bái Huân Tần Hạo, Giản Hồng Lâm
2016 Đản nam (My Egg Boy) Zeng Mei Bao Phượng Tiểu Nhạc
2017 The Mysterious Family Miao Miao Khương Võ, Huệ Anh Hồng, Trần Hiểu
2020 A Choo Hsin Hsin Kha Chấn Đông, Vương Đại Lục

Chương trình truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

  • 2017:

Các quảng cáo TV Commercial phát sóng trên TV[sửa | sửa mã nguồn]

  • 2001:
    • TrainAsia 2U PrePaidCard (2001)
    • TrainAsia 2U PrePaidCard CDbox (2001)
    • TrainAsia 2U PrePaidCard KTV (2001)
  • 2004:
    • Jcode CF Valentines (2/2004) cùng Quách Phẩm Siêu (Dylan Kuo)
    • Jcode CF Motorcycle (2004)
    • Contact Lens Solution CF (2004)
Lâm Y Thần quảng cáo cho sản phẩm SAUGELLA vào ngày 22 tháng 8 năm 2015
Lâm Y Thần quảng cáo trên thân một chiếc xe buýt vào ngày 26 tháng 4 năm 2017

Phát hành sách[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ariel's Blog (林家女孩依晨的青春部落格 Lín jiā nǚhái Yīchén de qīngchūn bùluògé) (9/9/2005) ISBN 9576799775
  • Ariel Lin's New York Bagel Diary (林依晨的紐約貝果日記 Lín Yīchén de Niǔ Yuē bèiguǒ rìjì) (28/3/2008) ISBN 9789868414341
  • Ariel's A wonderful Journey" (美好的旅行) (12/8/2010) ISBN 9789866606991
  • Be Yourself, Why Do You Say Sorry (做自己,為什麼還要說抱歉?) (13/1/2022) ISBN 9789570861471

Giải thưởng và đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Giải thưởng Hạng mục Phim Kết quả
2003 Giải Kim Mã lần thứ 40 Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất Phi dược tình hải
飞跃情海
Love Me, If You Can
Đề cử
2008 Giải Kim Chung lần thứ 43 Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất (phim truyền hình) Thơ ngây 2 Đoạt giải
2009 2009 Modern Shanghai Awards Nghệ sĩ nữ của năm Đoạt giải
2009 Yahoo! Asia Buzz Awards (HK) Nữ diễn viên quốc tế Đoạt giải
Nữ diễn viên hấp dẫn nhất châu Á Đoạt giải
2010 Sprite Original Music Billboard Awards Giải thưởng tài năng mới xuất sắc nhất Đoạt giải
Media Recommended Award Đoạt giải
2012 Giải Kim Chung lần thứ 47 Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất (phim truyền hình) Có lẽ anh sẽ không yêu em Đoạt giải
2015 Liên hoan phim Quốc tế Seoul Ngôi sao lớn châu Á Đoạt giải
2016 Nữ diễn viên được hoan nghênh nhất năm (Khu vực Hồng Kông - Đài Loan) 1

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 林依晨父母离婚23年 关系终破冰 (bằng tiếng Trung). Sina Corp. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2017.
  2. ^ 林依晨父母离婚23年 关系终破冰 (bằng tiếng Trung). Sina Corp. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2017.
  3. ^ 林依晨工作不喊苦 23歲就曾立遺囑 (bằng tiếng Trung). Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2022.
  4. ^ 林依晨工作不喊苦 23歲就曾立遺囑 (bằng tiếng Trung). Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2022.
  5. ^ 林依晨切腦瘤體力差 5年才演一部劇有洋蔥 (bằng tiếng Trung). Mirror Media. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2022.
  6. ^ 《十八岁的约定》林依晨扮"野蛮女生". NetEase (bằng tiếng Trung). ngày 29 tháng 4 năm 2004.
  7. ^ 「飛躍情海」林依晨 問鼎金馬有潛力. TVBS (bằng tiếng Trung). 3 tháng 12 năm 2003.
  8. ^ 《飞跃情海》:梁祝下世传奇 (bằng tiếng Trung). Sina Corp. 18 tháng 9 năm 2006.
  9. ^ “Lâm Y Thần gây xôn xao khi tuyên bố dừng hoạt động giải trí”.
  10. ^ "秘密花园"续"流星"经典 林依晨饰女一号. Sohu (bằng tiếng Trung). 13 tháng 1 năm 2006.
  11. ^ 《爱情合约》即将播出 贺军翔林依晨为爱签约. Sohu (bằng tiếng Trung). 5 tháng 7 năm 2007.
  12. ^ 林依晨献唱《爱情合约》 歌手梁静茹亲临指点 (bằng tiếng Trung). Sina Corp. 28 tháng 7 năm 2004.
  13. ^ 林依晨献唱《爱情合约》 歌手梁静茹亲临指点 (bằng tiếng Trung). Sina Corp. 28 tháng 7 năm 2004.
  14. ^ 《恶作剧之吻》热播 林依晨发动"恶作剧攻势" (bằng tiếng Trung). Sina Corp. 24 tháng 1 năm 2007.
  15. ^ 《恶作剧之吻》收视爆棚 称霸周日收视排行榜 (bằng tiếng Trung). Sina Corp. 9 tháng 11 năm 2015.
  16. ^ 风靡亚洲的契机:台剧《恶作剧之吻》 (bằng tiếng Trung). Sina Corp. 1 tháng 9 năm 2010.
  17. ^ 近視近七百度林依晨不妥協 保持好眼色 (bằng tiếng Trung). Keng Shen News. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2022.
  18. ^ 搞笑出场 《天外飞仙》林依晨化身仙女 (bằng tiếng Trung). Sina Corp. 7 tháng 2 năm 2006.
  19. ^ 《天外飞仙》开播一周收视不凡 (bằng tiếng Trung). Sina Corp. 26 tháng 1 năm 2006.
  20. ^ 搞笑出场 《天外飞仙》林依晨化身仙女 (bằng tiếng Trung). Sina Corp. 7 tháng 2 năm 2006.
  21. ^ 「失聯同學」林依晨 上課嘍! (bằng tiếng Trung). Liberty Times. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2022.
  22. ^ 搞笑出场 《天外飞仙》林依晨化身仙女 (bằng tiếng Trung). Sina Corp. 7 tháng 2 năm 2006.
  23. ^ 《恶作剧之吻》热播 林依晨发动"恶作剧攻势" (bằng tiếng Trung). Sina Corp. 24 tháng 1 năm 2007.
  24. ^ 「失聯同學」林依晨 上課嘍! (bằng tiếng Trung). Liberty Times. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2022.
  25. ^ 《恶作剧之吻》热播 林依晨发动"恶作剧攻势" (bằng tiếng Trung). Sina Corp. 24 tháng 1 năm 2007.
  26. ^ 《恶作剧之吻》热播 林依晨发动"恶作剧攻势" (bằng tiếng Trung). Sina Corp. 24 tháng 1 năm 2007.
  27. ^ 《恶作剧之吻》热播 林依晨发动"恶作剧攻势" (bằng tiếng Trung). Sina Corp. 24 tháng 1 năm 2007.
  28. ^ “Loạt biến cố khó tin trong cuộc đời mỹ nhân "Thơ Ngây" - Lâm Y Thần”.
  29. ^ 《东方茱丽叶》:限制级爱情偶像剧实战手册 (bằng tiếng Trung). Sina Corp. 1 tháng 9 năm 2007.
  30. ^ 《东方茱丽叶》:限制级爱情偶像剧实战手册 (bằng tiếng Trung). Sina Corp. 1 tháng 9 năm 2007.
  31. ^ “Hồ Ca: Ám ảnh tai nạn thảm khốc phải khâu 100 mũi trên mặt”.
  32. ^ “Loạt biến cố khó tin trong cuộc đời mỹ nhân "Thơ Ngây" - Lâm Y Thần”.
  33. ^ “Thơ Ngây 2, vẫn "hot" Trịnh Nguyên Sướng”.
  34. ^ “Lâm Y Thần: Cuộc đời như phim thần tượng, kết viên mãn cho "Lọ Lem".
  35. ^ “Lâm Y Thần: Cuộc đời như phim thần tượng, kết viên mãn cho "Lọ Lem".
  36. ^ “Hồ Ca trở lại, "Tân Anh hùng xạ điêu" tiếp tục bấm máy”.
  37. ^ “Hồ Ca trở lại, "Tân Anh hùng xạ điêu" tiếp tục bấm máy”.
  38. ^ “Hồ Ca trở lại, "Tân Anh hùng xạ điêu" tiếp tục bấm máy”.
  39. ^ “Thơ Ngây 2, vẫn "hot" Trịnh Nguyên Sướng”.
  40. ^ “Thơ Ngây 2, cảnh nóng gây tranh cãi”.
  41. ^ “Lâm Y Thần giành giải nữ diễn viên xuất sắc nhất”.
  42. ^ 近視近七百度林依晨不妥協 保持好眼色 (bằng tiếng Trung). Keng Shen News. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2022.
  43. ^ “Loạt biến cố khó tin trong cuộc đời mỹ nhân "Thơ Ngây" - Lâm Y Thần”.
  44. ^ “Ariel Lin quits acting?”. Yahoo News. ngày 5 tháng 7 năm 2011.
  45. ^ “Loạt biến cố khó tin trong cuộc đời mỹ nhân "Thơ Ngây" - Lâm Y Thần”.
  46. ^ “Bội thu giải Kim Chung, phim của Lâm Y Thần quyết làm bản điện ảnh”.
  47. ^ “Lâm Y Thần, Chung Hán Lương được vinh danh là Ngôi sao Châu Á”.
  48. ^ “Lâm Y Thần ngượng khi đóng sản phụ”.
  49. ^ “Lưu Diệp tái xuất màn ảnh cùng Lâm Y Thần trong "Già gân và mỹ nhân".
  50. ^ “Vừa lên sóng, "Tiểu Nữ Hoa Bất Khí" của Lâm Y Thần đã gây sốt”.
  51. ^ “Loạt biến cố khó tin trong cuộc đời mỹ nhân "Thơ Ngây" - Lâm Y Thần”.
  52. ^ “Loạt biến cố khó tin trong cuộc đời mỹ nhân "Thơ Ngây" - Lâm Y Thần”.
  53. ^ “Lâm Y Thần lập di chúc từ... năm 23 tuổi”.
  54. ^ “Lâm Y Thần tuyên bố dừng đóng phim”.
  55. ^ “Lâm Y Thần có tình mới sau nửa năm cô đơn”.
  56. ^ “Lâm Y Thần có tình mới sau nửa năm cô đơn”.
  57. ^ “Ariel Lin engaged with her boyfriend”. Sina Corp. ngày 8 tháng 10 năm 2014.
  58. ^ “Ariel Lin gets married on Christmas Eve in Taipei”. China.org.cn. ngày 25 tháng 12 năm 2014.
  59. ^ “Lâm Y Thần có tình mới sau nửa năm cô đơn”.
  60. ^ “Khoảnh khắc đẹp trong lễ cưới của Lâm Y Thần”.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]