Lâu đài Kyburg

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Lâu đài Kyburg
Modell Kyburg.jpg
Thông tin chung
DạngLâu đài
Phong cáchTrung cổ
Quốc giaThụy Sĩ
Tọa độ47°27′30″B 8°44′36″Đ / 47,458384°B 8,74338°Đ / 47.458384; 8.743380

Lâu đài Kyburg (tiếng Đức: Schloss Kyburg) là một lâu đài ở bang Zürich Thụy Sĩ, đây là một di sản Thụy Sĩ có ý nghĩa quốc gia.[1]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Lâu đài đầu tiên có khả năng được xây dựng vào nửa sau của thế kỷ thứ 10 bởi bá tước Winterthur, tên Kyburg xuất hiện lần đầu tiên vào những năm 1230.[2] Lâu đài đầu tiên đã bị phá hủy vào năm 1028 hoặc 1030 bởi hoàng đế Conrad II. Nó được xây dựng lại và nhanh chóng trở thành trung tâm của quận Kyburg, được thành lập vào năm 1053 như là một sở hữu của bá tước Dillingen. Năm 1079, trong Cuộc Tranh cãi việc bổ nhiệm giáo sĩ, lâu đài đã bị tấn công và phá hủy một phần bởi Abbot Ulrich II của St. Gall. Vào năm 1096, bá tước Dillingen gắn với bá tước Kyburg là một trong những danh hiệu của họ. Đến năm 1180, danh hiệu bá tước Kyburg nổi lên như một dòng của gia đình Dillingen.[3]

Sau cái chết của người cuối cùng vào năm 1264, Rudolf I nhà Habsburg đã tuyên bố quyền thừa kế cho gia đình ông. Từ sự kiện này, lậu đài trở thành lâu đài hoàng gia khi Hoàng gia Regalia của Đế chế La Mã thần thánh chuyển về lâu đài từ năm 1273 đến 1322. Việc bổ sung các phần quan trọng trong diễn ra vào thế kỷ 13 và 14. Đây là một trong những khu phức hợp lâu đài thời trung cổ còn sót lại lớn nhất ở Thụy Sĩ, bao gồm một tòa nhà và cung điện có thêm các tòa nhà dân cư và kinh tế và một nhà nguyện, tất cả được kết nối bởi một bức tường thành bao quanh một sân lớn.

Vào năm 1424, thành phố Zürich đã mua quận và lâu đài trở thành trụ sở của sự tái cấu trúc. Lâu đài đổ nát đã được cải tạo đáng kể vào thời điểm này. Nhà nguyện có những bức bích họa gothic muộn đáng kể do Zürich ủy quyền.[3] Lâu đài đã bị cướp bóc bởi người dân địa phương vào năm 1798, từ năm 1803 cho đến năm 1831 lâu đài được sử dụng làm cơ quan hành chính.

Năm 1831, lâu đài đã bị bán cho Franz Heinrich Hirzel của Winterthur, người dự định sử dụng nó làm mỏ đá. Để ngăn chặn sự phá hủy của nó, lâu đài đã được mua bởi bá tước Ba Lan lưu vong Alexander Sobansky (1799 - 1861) vào năm 1835, Sobansky đã ở trong lâu đài trong 30 năm tiếp theo. Năm 1917, bang Zurich đã mua lại lâu đài, kể từ năm 1999 lâu đài trở thành Bảo tàng Verein Schloss Kyburg. Ngày nay vào mỗi mùa hè, lễ hội âm nhạc thính phòng quốc tế Kyburgiade được tổ chức trong sân trong của lâu đài.[4]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Kantonsliste A-Objekte:GR”. KGS Inventar (bằng tiếng Đức). Federal Office of Civil Protection. 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2017. 
  2. ^ ortsnamen.ch 1027 Chuigeburch, ZUB XIII; 230a; 9. 1028 Eodem Anno Castrum Chiuburch tribus mensibus a Conrado Jmp. obsessum capitur, Liber Heremi. Annales Einsidlenses, 126. 1096 [Graf Adelbert I. von] Cogiburk, Orig ZUB XII; 241c; 16. 1112 Adelbertus comes de Choͧiburk, Z.Ub.I. 143, 258. 1137 [Hartmann II. von] Kuiburc, ZUB XII; 281b; 20. 1152 Hartmanno comite de Chuͦweburg, Orig ZUB XII; 300b; 23. 1155 Dedalricus de Choͧburg, Orig ZUB I; 310; 191. 1173 Arthmannus de Chyburc, Orig ZUB XII; 327a; 26. 1180 et comitem Hartmannum de Qwiburg, Orig ZUB I; 336; 212. 1213 [Graf Ulrich von] Kiburc, Orig ZUB XII; 376a; 39. 1216 V̊lricus comes de Chiburg, Orig Chart Sang III; 1035; 103. 1218 filio comitis Uldrici de Kibor, ZUB XII; 386a; 40. 1223 Warnherus et Hartimagnus comites de Kiburg, Orig ZUB XII; 417a; 46. 1230 de Kiburg, Orig ZUB I; 454; 334. 1233 Hartmanni comitis de Kyburc, Orig ZUB I; 484; 358. 1238 H[artmannus] comes de Kyburg, Orig ZUB II; 511; 13.
  3. ^ a ă Ueli Müller: Kyburg bằng các tiếng Đức, Pháp, và Ý trong quyển Từ điển lịch sử Thụy Sĩ. Phiên bản vào ngày 3 tháng 9 năm 2008.
  4. ^ “Kyburgiade” (bằng tiếng Đức). Schwandenstrasse 27, 8802 Kilchberg: Internationales Musikfestival auf Schloss Kyburg. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2014. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]