Lữ Động Tân

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Lã Động Tân)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lữ Động Tân, một nhân vật trong số Bát Tiên.

Lữ Động Tân (phồn thể: 呂洞賓; Wade–Giles: Lü Tung-Pin; 796-?) là một nhân vật lịch sử và là một vị thần trong số Bát Tiên, được tôn kính trong lịch sử văn hóa Trung Hoa. Tương truyền, Lữ Động Tân là kiếp sau của Đông Hoa Đế Quân.

Truyền thuyết[sửa | sửa mã nguồn]

Tương truyền Lữ Động Tân, con của Thứ Sử Hải Châu, sanh ngày 14 tháng 4. Khi bà mẹ mới sinh Ông thì trong phòng mùi hương thơm phức, có hạc trắng bay vào phòng rồi biến mất. Ấy là Huê Dương Chân Nhân đầu thai xuống trần làm Lữ Ðộng Tân.

Lữ Động Tân lớn lên, mắt phụng mày ngài, tay dài, cổ cao, mũi thẳng, xương gò má cao, chân mày bên tả có nốt ruồi, dưới bàn chân có chỉ như lưng qui, mình cao 8 thước 2, tính ưa bịt khăn huê dương (bao đảnh xanh), mặc áo đạo sĩ.

Khi ấy có thầy coi tướng Mãn Tổ đến coi đoán rằng: “Người trẻ này tướng khác phàm tục, sau gặp chữ Lư thì đắc thời, gặp chữ Chung thì thành đạo.”

Mọi người trong nhà đều nghe nhưng không hiểu gì.

Năm 20 tuổi, Lữ Động Tân xưng hiệu là Thuần Dương, nên gọi là Lữ Thuần Dương, đi thi đỗ Tú Tài, tiếp theo đỗ luôn Cử Nhân, nhưng khi thi Tiến Sĩ thì rớt. Khi đến núi Lư sơn, gặp Huỳnh Long Chân Nhân dạy cho phép tu luyện và tặng cho một thanh gươm chém được yêu quái.

Ngày kia, Lữ Động Tân đến chợ Trường An, huyện Hàm Ðan, vào quán rượu, gặp một đạo sĩ mặc áo trắng đang đề thơ trên vách ba bài thi. Lữ Động Tân thấy đạo sĩ cốt cách Thần Tiên, đề thơ thanh thoát thì cảm phục lắm, liền đến làm quen, chắp tay chào hỏi và xin Ðạo sĩ cho biết họ tên. Ðạo sĩ mời ngồi, rồi nói rằng : “Ta là Vân Phòng tiên sinh, ngụ tại Hạc Lĩnh núi Chung Nam, ngươi có muốn theo ta đi tu Đạo không?” Lữ Động Tân đã không nhận lời.

Tuy nhiên, Vân Phòng và Lữ Động Tân ở cùng một phòng trọ với nhau. Khi Vân Phòng đang nấu cháo kê, Lữ Động Tân đột nhiên ngủ mê mệt. Ông có một giấc mơ rằng ông đỗ làm Trạng Nguyên, nhậm một chức quan lớn ở triều đình, và cưới hai người con gái của một gia đình giàu có. Trong giấc mơ ấy ông có nhiều thê thiếp, người hầu và con cháu. Khoảng 40 năm sau, ông trở thành Thừa Tướng, đảm nhiệm chức vụ quan trọng bậc nhất trong triều đình tròn một thập niên. Tuy nhiên, ông đã vô ý phạm phải trọng tội, cuối cùng phải lìa vợ xa con, lưu lạc nơi núi rừng hoang dã, đơn độc một mình, khốn khổ tiều tụy. Khi đang cưỡi ngựa giữa cơn gió tuyết, ông thở dài cảm thán thì đã thấy mình thức dậy bên cạnh nồi cháo kê đang nấu. Vân Phòng cười và tụng hai câu thơ:

Hoàng lương do vị tục

Nhất mộng đáo hoa tư

Lữ Động Tân thất kinh, hỏi: “Tiên sinh có biết giấc mộng của tôi có nghĩa là gì không?” Vân Phòng đáp: “Giấc mộng vừa rồi của ngươi, thăng trầm muôn vẻ, vinh nhục đa đoan. Năm mươi năm không là gì hết, chỉ trong nháy mắt. Do vậy, được mất trong cuộc sống ngắn ngủi này không có nghĩa lý gì cả. Thế nhân phải kinh qua quá trình đại triệt đại ngộ, mới hiểu ra rằng nhân thế chẳng qua chỉ là một giấc mộng dài mà thôi”. Lữ Động Tân cảm ngộ, nhận ra rằng giấc mộng trên là một điểm hóa. Vân Phòng khảo nghiệm ông bằng cách nói: “Cốt khí ngươi chưa hoàn thiện, vẫn còn chưa đủ phẩm chất của một vị Tiên, ngươi phải hoàn tất mấy đời tu luyện mới được”. Nói xong bèn ra đi, Lữ Động Tân sau đó bỏ sự nghiệp nhà Nho đi quy ẩn và trải qua 10 khảo nghiệm của Hán Chung Ly và đắc đạo thành tiên.

Câu tục ngữ và dị bản[sửa | sửa mã nguồn]

Có một dị bản khác là trước khi Lữ Động Tân thành tiên, có một người bạn tâm giao đồng hương tên là Cẩu Diễu, cha mẹ của anh ta đều đã qua đời, gia cảnh rất nghèo khó. Lữ Động Tân đồng cảm với người bạn này, liền cùng anh ta kết bái làm huynh đệ. Hơn nữa, còn mời anh ta đến ở tại nhà mình, động viên anh ta chịu khó học hành, tương lai mới có ngày mở mày mở mặt.

Một ngày nọ, nhà Lữ Động Tân có một vị khách họ Lâm đến chơi, thấy Cẩu Diễu thanh tuấn nho nhã, lại chăm chỉ đọc sách, bèn nói với Lữ Động Tân: “Lã tiên sinh, tôi muốn gả ngu muội của tôi cho Cẩu Diễu, ông thấy thế nào?”. Lữ Động Tân nghe vậy, sợ Cẩu Diễu bỏ lỡ tiền đồ, liền vội vàng từ chối, nhưng Cẩu Diễu lại ra chiều đồng ý mối hôn sự này. Lữ Động Tân nói: “Tiểu thư nhà họ Lâm vốn xinh đẹp đức hạnh, hiền đệ nếu chủ ý đã định, ta cũng không ngăn trở, chỉ là sau khi thành thân, ta muốn ngủ cùng tân nương tử (cô dâu) ba đêm đầu”.

Cẩu Diễu nghe xong không khỏi sửng sốt, nhưng vẫn cắn răng đồng ý. Buổi tối ngày Cẩu Diễu thành thân, trong động phòng, tân nương với khăn hồng che mặt, ngồi dựa lưng vào giường. Lúc này, Lã Động Tiên xông thẳng vào phòng, chẳng nói chẳng rằng, cứ ngồi ở bàn dưới ánh đèn, mải mê đọc sách. Lâm tiểu thư đợi đến nửa đêm, đành phải nằm ngủ một mình. Đến sáng tỉnh dậy, thì không thấy tân lang đâu. Cứ liên tiếp 3 đêm đều như vậy.

Trải qua 3 ngày vô cùng ức chế, Cẩu Diễu mới được vào động phòng, thấy nương tử đang buồn bã khóc lóc, liền bước đến nhận lỗi. Lâm tiểu thư vẫn cứ cúi đầu khóc nói: “Lang quân, vì sao 3 đêm qua lại không lên giường đi ngủ, chỉ đọc sách dưới đèn, mãi đến tối mới đến, sáng lại đi sớm?”.

Sau khi nghe tân nương trách móc, Cẩu Diễu trợn mắt há hốc mồm, đến nửa ngày, anh mới tỉnh ngộ, dẫm mạnh hai chân, ngửa mặt cười to: “Thì ra là ca ca sợ ta ham vui, lại quên đọc sách, đã dùng cách này để khích lệ ta. Ca ca thật dụng tâm, có thể nói là quá “nhẫn tâm” rồi!”.

Lâm tiểu thư nghe Cẩu Diễu nói như vậy thì thấy vô cùng khó hiểu, đợi Cẩu Diễu nói rõ xong, hai vợ chồng cảm động nói: “Ơn này của Lã huynh, tương lai chúng ta nhất định phải báo đáp!”.

Vài năm sau, Cẩu Diễu quả nhiên thi đỗ bảng vàng được đề bạt làm đại quan, hai vợ chồng đến nhà Lữ Động Tân xúc động từ biệt để lên đường đi nhận chức.

Nhoáng một cái đã 8 năm trôi qua, mùa hè năm đó, Lã gia không may bị cháy lớn, gia sản trong nháy mắt hóa thành đống tro bụi. Lữ Động Tân đành phải dựng một căn nhà tranh, để cho vợ con tạm tránh mưa tránh gió.

Sau đó, hai vợ chồng bàn bạc, quyết định đi tìm Cẩu Diễu nhờ giúp đỡ. Trải qua quãng đường vất vả cực khổ, cuối cùng Lữ Động Tân cũng tìm được Cẩu Diễu. Tuy nhiên, Cẩu Diễu khi nghe chuyện nhà Lữ Động Tân gặp nạn thì tỏ vẻ thông cảm, nhưng lại không đề cập đến chuyện giúp đỡ, một chút tiền cũng không đưa cho Lữ Động Tân.

Hơn một tháng trôi qua, Lữ Động Tân nghĩ rằng Cẩu Diễu hẳn là đã vong ân bội nghĩa, nên một mạch trở về nhà.

Lữ Động Tân vừa về đến nhà thì bất ngờ thấy một ngôi nhà mới. Không tin vào mắt mình, ông tiến vào bên trong nhà, thấy hai bên cửa lớn dán giấy trắng, giống như là trong nhà có người chết. Quá kinh ngạc, ông vội vàng bước vào, nhìn thấy giữa nhà có một cỗ quan tài, vợ con mình mặc áo tang, đang gào khóc thảm thiết.

Lữ Động Tân gọi vợ một tiếng. Người vợ quay đầu ra nhìn, liền run rẩy kêu lên: “Chàng, chàng là người hay là ma?”. Lữ Động Tân càng cảm thấy lạ lùng, ông hỏi: “Nương tử, ta khỏe mạnh trở về, làm sao là ma được đây?”.Người vợ nhìn một lúc, mới nhận ra đúng là Lữ Động Tân, nói: “Đúng là dọa tôi sợ đến chết!”.

Nguyên là, sau khi Lữ Động Tân rời đi không lâu, thì có người đến dựng giúp cái nhà, xây hẳn một ngôi nhà mới. Giữa trưa hôm trước, lại có nhóm người đến mang theo một cỗ quan tài, bọn họ nói: Lã Đông Tân khi đang ở nhà Cẩu Diễu thì bị bệnh chết.

Lữ Động Tân nghe xong, biết là Cẩu Diễn bày trò đùa mình. Ông lại gần quan tài, cầm cái búa lớn bổ quan tài làm đôi, chỉ thấy bên trong tất cả đều là kim ngân châu báu, bên trên còn có một phong thư, viết: “Cẩu Diễu không phải là phụ lòng huynh, xin tặng huynh số kim ngân này và một căn nhà. Huynh khiến thê tử ta giữ phòng trống, ta khiến thê tử huynh khóc đoạn trường”.

Từ đó trở đi, hai nhà Lữ Động Tân và Cẩu Diễu càng thêm thân thiết. Từ câu chuyện này, người ta mới có câu rằng: “Cẩu Diễu Lữ Động Tân, bất thức hảo nhân tâm. Bởi vì “Cẩu Diễu” (苟杳) và “Cẩu giảo” (狗咬) đồng âm, truyền tới truyền lui mới trở thành “Cẩu giảo Lữ Động Tân, bất thức hảo nhân tâm” (Chó cắn Lữ Động Tân, không biết lòng tốt của người), là một câu thành ngữ trong nhân gian.

Minh họa và ý nghĩa tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Ông thường được miêu tả là mặc trang phục của đạo sĩ, tay trái cầm phất trần, kiếm phép đeo chéo sau lưng. Kiếm phép là kiếm biết bay và nghe theo lời ông sai khiến. Ông được tôn là ông tổ của nghề thợ cạo.

Là một học giả ẩn dật được tôn sùng như thần hộ mệnh của những người bệnh, thanh kiếm của ông có phép thuật để xua đuổi những linh hồn quỷ dữ và loại bỏ những nguồn năng lượng xấu. Tay phải ông cầm phất trần để chữa bệnh. Đặt vị tiên này trong nhà sẽ giúp cho mọi thành viên của gia đình tránh được bệnh tật do âm khí tạo ra.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]