Lãnh thổ động vật

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Một con hổ đang đánh dấu lãnh thổ

Lãnh thổ động vậtthuật ngữ trong sinh học chỉ về một khu vực thuộc quyền kiểm soát của một cá thể hoặc một bầy, đàn động vật và được con vật hoặc bầy đàn đó đặc biệt bảo vệ chống lại kẻ xâm nhập một cách quyết liệt, lãnh thổ động vật là nơi thể hiện tập tính lãnh thổ của động vật và được các con vật tuần tra, bảo vệ thường xuyên. Động vật bảo vệ lãnh thổ theo cách này được gọi là tập tính lãnh thổ. Chúng đánh dấu lãnh thổ có thể bằng mùi hương, hoặc tiếng ồn ào, tiếng gầm, hú để thể hiện sự hiện diện của mình.

Đại cương[sửa | sửa mã nguồn]

Lãnh thổ chỉ được thể hiện bởi một thiểu số các loài. Thông thường hơn, một cá thể hay một nhóm các loài động vật sẽ có một khu vực mà nó có thói quen sử dụng nhưng không nhất thiết phải bảo vệ, dạng này được gọi là nhà. Những mái nhà của các nhóm khác nhau của động vật thường chồng lấn lên nhau, hoặc trong các khu vực chồng chéo lên nhau, các nhóm sẽ có xu hướng tránh nhau thay vì tìm cách đuổi nhau.

Chức năng cuối cùng của loài động vật sinh sống trong một vùng lãnh thổ là tăng cường thể lực cá thể hoặc đi bộ tuần tra bao gồm các loài động vật thể hiện hành vi. Thể hình trong ý nghĩa sinh học này liên quan đến khả năng của một con vật để tồn tại và nuôi con. Các chức năng gần phòng vệ lãnh thổ khác nhau. Đối với một số động vật, lý do cho hành vi bảo vệ như vậy là để tiếp thu và bảo vệ nguồn thức ăn, địa điểm làm tổ, khu vực giao phối, hoặc để thu hút bạn tình tạo thành một hậu cung.

Chiếm giữ và bảo vệ vùng lãnh thổ là một biểu hiện tập tính quan trọng ở giới động vật, từ các động vật bậc thấp đến các nhóm động vật bậc cao. Ở nhiều động vật thuộc lớp Thú, chúng dùng các chất tiết từ tuyết thơm, nước tiểu để đánh dấu và xác định vùng lãnh thổ, chúng chiến đấu với những kẻ xâm phạm lãnh thổ bằng các trận giao tranh quyết liệt để giữ gìn nguồn thức ăn và nơi ở. Vì vậy, ở mỗi vùng lãnh thổ, mỗi đàn đều có một con đầu đàn chỉ huy các trận đấu tranh giành lãnh thổ với kẻ khác, cũng như chống lại các động vật khác định ăn trộm thức ăn của đàn, hay khi bị đe dọa bị ăn thịt.

Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Một con chó sói đang đánh dấu lãnh thổ

Vùng lãnh thổ đã được phân loại là sáu loại.

  • Loại A: Một lãnh thổ cho tất cả mục đích trong đó tất cả các hoạt động của động vật xảy ra, ví dụ tán tỉnh, giao phối, làm tổ và kiếm ăn. Thường gặp ở loài chim biết hót.
  • Loại B: Một khu vực để giao phối và lãnh thổ làm tổ trong đó tất cả các hoạt động chăn nuôi diễn ra, nhưng tìm kiếm thức ăn hầu hết xảy ra ở những nơi khác. Tức là nơi trú ngụ chứ không đồng thời là nơi kiếm ăn.
  • Loại C: Một lãnh thổ làm tổ trong đó bao gồm các tổ cộng với một khu vực nhỏ xung quanh nó. Thường gặp ở các loài chim nước.
  • Loại D: Một cặp giao phối và lãnh thổ. Các loại lãnh thổ bảo vệ bởi con đực cùng loài.
  • Loại E: Đúng địa lãnh thổ.
  • Loại F: lãnh thổ mùa đông mà thường bao gồm các lĩnh vực tìm kiếm thức ăn và các vùng để chim đậu. Có thể là tương đương (về vị trí) để một thể loại lãnh thổ, hoặc cho một loài di cư, có thể là trên các căn cứ trú đông.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Walther, F. R., E. C. Mungall, G. A. Grau. (1983) Gazelles and their relatives: a study in territorial behavior Park Ridge, N.J.: Noyes Publications 239, ISBN 0-8155-0928-6
  • Stokes, A. W. (editor) (1974) Territory Stroudsburg, Pa., Dowden, Hutchinson & Ross 398, ISBN 0-87933-113-5
  • Klopfer, P. H. (1969) Habitats and territories; a study of the use of space by animals New York, Basic Books 117 p.