Lê Anh Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lê Anh Tông
黎英宗
Hoàng đế Việt Nam (chi tiết...)
Hoàng đế nhà Hậu Lê
Trị vì 1556 - 1573
Tiền nhiệm Lê Trung Tông
Nhiếp chính Trịnh Kiểm
Trịnh Tùng
Kế nhiệm Lê Thế Tông
Thông tin chung
Hậu duệ Lê Thế Tông
Mai Hoa công chúa
Tên thật Lê Duy Bang (黎維邦)
Niên hiệu
Thụy hiệu Tuấn Hoàng Đế
峻皇帝
Miếu hiệu Anh Tông (英宗)
Triều đại Nhà Hậu Lê
Sinh 1532
Mất 22 tháng 1, 1573
Lôi Dương, Thanh Hóa
An táng Bố Vệ lăng hay Thổ Lăng (土陵)

Lê Anh Tông (chữ Hán: 黎英宗; 1532 - 22 tháng 1, 1573), tên húy là Lê Duy Bang (黎維邦), là Hoàng đế thứ 3 của Nhà Lê trung hưng và thứ 14 của Nhà Hậu Lê. Ông trị vì từ năm 1556 đến năm 1572, tổng cộng 16 năm.

Anh Tông hoàng đế xuất thân từ dòng dõi xa của hoàng thất, đến khi hoàng thất không còn hậu duệ thì ngai vàng đến dòng dõi của ông. Khi ấy nhà Lê vừa mới trung hưng, chính sự đều còn non nớt, nhưng Thái sư Trịnh Kiểm hết lòng phò tá, tiếp tục dựng nên cơ nghiệp. Song sự nghiệp chưa xong một nửa, lòng nghi hoặc dần nảy sinh đối với Trịnh Kiểm, chỉ tin lời gièm pha của gian thần mà mưu việc phế trừ Trịnh Tùng, dẫn đến kết cuộc chết nơi đất khách bên ngoài.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Phụ thân của Lê Duy Bang là Lê Duy Khoáng (黎维絖), truy tôn Hiếu Tông Nhân hoàng đế; mẹ ông là người hương Bố Vệ, huyện Động Sơn. Theo Đại Việt sử ký toàn thư ghi nhận lại, Duy Khoáng là dòng dõi Lam Quốc công Lê Trừ (黎除), anh trai của Thái Tổ Cao hoàng đế Lê Lợi. Lê Trừ sinh ra Lê Khang (黎康), Khang sinh ra (黎壽), Thọ sinh Lê Duy Thiệu (黎維紹), Duy Thiệu sinh Duy Khoáng. Như vậy, về vai vế trong dòng họ Lê Hoàng, Anh Tông hoàng đế ở hàng ông của Lê Trung Tông.

Năm 1556, Lê Trung Tông băng hà mà không có con nối. Trong khoảng thời gian đó, Trịnh Kiểm từng có ý tự lập, nhưng về sau theo lời Nguyễn Bỉnh Khiêm, vẫn quyết định tôn phò con cháu nhà Lê, vì thế cho tìm ra Anh Tông ở Bố Vệ, bèn rước về tôn lên làm Hoàng đế. Ông bấy giờ 24 tuổi, đặt niên hiệu là Thiên Hựu (天祐). Thời kỳ Lê Anh Tông cai trị, nhà Lê Trung hưng tiếp tục kiểm soát ổn định địa bàn từ Thanh Hóa trở vào Nam. Phía bắc là vùng đất thuộc nhà Mạc kiểm soát.

Trị vì[sửa | sửa mã nguồn]

Củng cố chính quyền[sửa | sửa mã nguồn]

Khác với Lê Trang TôngLê Trung Tông, thường ủy thác toàn bộ việc chiến sự cho hai đại thần Nguyễn KimTrịnh Kiểm, Anh Tông lại đã có những lần tự cầm quân ra mặt trận chống nhà Mạc. bên cạnh đó, ông tiếp tục chính sách tuyển nhân tài, lập các khoa thi, như năm 1558 đã lập khoa Thi Hương ở xã Đa Lộc, huyện Yên Định.

Năm 1558, Anh Tông theo lời tâu của Trịnh Kiểm, phong cho Nguyễn Hoàng trấn thủ Thuận Hóa, đến 1569 lại giao trấn thủ cả Quảng Nam. Từ đó họ Nguyễn ở phương nam bắt đầu gầy dựng thế lực, mầm mống nội loạn về sau đã xuất hiện.

Bấy giờ, Thái sư Trịnh Kiểm đem quân dần tiến đến phủ Thuận An[1], cầm cự với quân họ Mạc. Vua Mạc Phúc Nguyên hoảng sợ, bèn bỏ Thăng Long để ra cửa Nam. Dần dần tiến đánh được Khoái Châu, Hồng ChâuTiên Hưng[2].

Năm 1560, sau khi tiến tới gần Thăng Long, thu phục các vùng đất Kinh Bắc, trong nước được mùa lớn. Anh Tông hạ lệnh cho dân địa phương đã quy thuận ở các huyện thuộc trấn Kinh Bắc nộp lúa để cung cấp cho quân lính. Quân nhà Lê và quân nhà Mạc tiếp tục giằng co rất căng thẳng.

Năm 1568, mùa hạ, tháng 4, Trịnh Kiểm ra quân đánh Ninh Bình rồi lui về. Năm 1569, vào dịp đầu năm, Anh Tông phong cho Thái sư làm Thượng tướng Thái Quốc công, tôn làm Thượng phụ.

Họ Trịnh tranh giành[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1570, ngày 18 tháng 2, Trịnh Kiểm qua đời. Anh Tông dùng con trưởng của Kiểm là Tuấn Đức hầu Trịnh Cối đốc lĩnh các dinh quân thuỷ bộ, giữ binh quyền. Tuy nhiên, Trịnh Cối không được lòng người, các tướng Lê Cập Đệ, Trịnh Vĩnh Thiệu[3], Vệ Dương hầu Trịnh Bách đều theo tôn phò Trịnh Tùng. Tùng bèn cùng với bọn Cập Đệ, Vĩnh Thiệu thu thập binh tướng, đang đêm chạy về hành tại Yên Trường.

Hôm sau, tất cả dẫn đầu bởi Phúc Lương hầu Trịnh Tùng vào cung, thuyết phục Anh Tông dời đến trong cửa ải Vạn Lai, chia quân chiếm giữ cửa luỹ để phòng bị quân bên ngoài. Anh Tông đích thân ra mặt hòa giải nhưng không được. Lúc đó người châu Bố ChínhLập quận công thấy dẫn con em đầu hàng họ Mạc. Nhân đó, Mạc Kính Điển đem 10 vạn quân đánh cướp Thanh Hoa. Gặp thù trong lẫn giặc ngoài, Trịnh Cối tự liệu không chống nổi, bèn đem mẹ và vợ con đón hàng họ Mạc. Sau khi trịnh Cối hàng nhà Mạc, Anh Tông phong Phúc Lương hầu Trịnh Tùng làm Trường quận công, cho làm Tiết chế chỉ huy chống quan nhà Mạc. Tháng 12, quân mạc thấy đánh không được bèn lui quân về, đem theo cả Trịnh Cối

Sau sự kiện tranh giành, Trường quận công Trịnh Tùng kế tục Thái vương giúp đỡ quyền hành cho nhà Lê, được phong Trường quốc công, giữ chức Thái úy, sau lại thăng làm Tả tướng quốc. Đoan Vũ hầu Lê Cập Đệ vì dũng cảm, quyết đoán, và có nhiều kế sách được thăng làm Thái phó.

Bất đắc kì tử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1572, mùa xuân, Anh Tông tế trời đất ở đàn Nam Giao. Khi làm lễ, Đế bưng lư hương khấn trời xong, bỗng lư hương rơi xuống đất. Đế biết là điềm chẳng lành, bèn xuống chiếu đổi niên hiệu thành Hồng Phúc (紅福).

Bấy giờ, thấy quyền hành Tả tướng quốc Trịnh Tùng lớn quá, Thái phó Lê Cập Đệ mưu trừ Tùng nhưng bất thành. Ngày 21 tháng 11, Tùng dùng kế giết Cập Đệ, phao là theo lệnh của hoàng thượng. Bọn Cảnh HấpĐình Ngạn nói với Hoàng thượng rằng

"Tả tướng cầm quân, quyền thế rất lớn, bệ hạ khó lòng cùng tồn tại với ông ta được".

Ông nghe nói vậy, hoang mang nghi hoặc, đương đêm, bỏ chạy ra ngoài, đem theo bốn hoàng tử cùng chạy đến thành Nghệ An và ở lại đó. Trịnh Tùng bèn lập hoàng tử thứ năm là Duy Đàm lên làm vua, tức là Lê Thế Tông. Bấy giờ, Anh Tông phiêu bạt ở Nghệ An cùng 4 hoàng tử Lê Duy Bách, Lê Duy Lựu, Lê Duy Ngạn cùng Lê Duy Tùng.

Bấy giờ, Trịnh Tùng sai bọn Nguyễn Hữu Liêu đến Nghệ An đón vua. Đế tránh ra ruộng mía, bọn Hữu Liêu quỳ lạy ở ruộng xin nhà vua trở về. Vua bất đắc dĩ phải nghe theo. Bèn đem 4 con voi đực đón Đế trở về, sai bọn Bảng quận công Tống Đức Vi theo hầu, ngày đêm cùng đi. Ngày 22 tháng 1, năm 1573, Anh Tông đi đến Lôi Dương. Tả tướng trước đó ngầm sai Đức Vi bức bách giết chết vua, rồi nói phao lên rằng tự thắt cổ chết, bấy giờ ông thọ 42 tuổi.

Trung Tông Nghị hoàng đế dâng miếu hiệu cho ông là Anh Tông (英宗), thụy là Tuấn Hoàng Đế (峻皇帝), toàn xưng Anh Tông Tuấn hoàng đế (英宗峻皇帝), táng ở Bố Vệ lăng (布卫陵) sau gọi là Thổ Lăng (土陵).

Gia quyến[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Thận Ý Tuấn hoàng hậu (順懿峻皇后), không rõ họ.
  2. Tuy Khánh Minh phi (揣慶明妃), không rõ họ.
  • Hậu duệ:
  1. Lê Duy Bách [黎维伯].
  2. Lê Duy Lựu [黎维繇].
  3. Lê Duy Ngạn [黎维彥].
  4. Lê Duy Tùng [黎维松].
  5. Lê Duy Đàm [黎维潭], tức Thế Tông Nghị hoàng đế (世宗毅皇帝).

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Phủ Thuận An : nay thuộc tỉnh Bắc Ninh. Phủ lỵ phủ Thuận An ở khoảng Dâu Keo.
  2. ^ Phủ Tiên Hưng : gồm phần đất của các huyện Hưng Hà, Đông Hưng, tỉnh Thái Bình ngày nay.
  3. ^ người xã Biện Thượng, huyện Vĩnh Lộc, phủ Thiệu Thiên, trấn Thanh Hoa. Ngày nay thuộc huyện Thiệu Hoá, tỉnh Thanh Hoá.
  4. ^ Theo Lịch triều hiến chương loại chí - Lê Quý Đôn, phần Nghi lễ - Lễ thờ Tôn Miếu - Các vị thờ ở điện Chí Kính
Lê Anh Tông
Sinh: 1532 Mất: 1573
Tước hiệu
Tiền vị:
Lê Trung Tông
Hoàng đế nhà Lê trung hưng
1556-1573
cùng Trịnh Kiểm (1556-1570)
Trịnh Tùng (1570-1573)
Kế vị
Lê Thế Tông
Tước hiệu thừa kế trên danh nghĩa
Tiền vị:
Lê Trung Tông
— DANH NGHĨA —
Hoàng đế Đại Việt
Tự nhận là dòng dõi hoàng gia
1556-1573
Lý do không thể nối ngôi:
Nam Bắc triều
Kế vị
Lê Thế Tông