Lê Minh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lê Minh
黎明
LeonLai2006.jpg
Sinh Lê Tiệp (黎捷)
11 tháng 12, 1966 (49 tuổi)
Bắc Kinh, Trung Quốc
Tên khác Leon Lai
Năm hoạt động 1986 - nay
Quê quán Mai huyện, Quảng Đông
Vợ (chồng) Gaile Lạc Cơ Nhi (kết hôn  2008–2012) «start: (2008)–2012 (2012-end+1:)»"Hôn nhân: Gaile Lạc Cơ Nhi đến Lê Minh" Location:Bản mẫu:Placename/adr (linkback://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%AA_Minh)
Người tình Lý Gia Hân
Website
www.amusic.hk

Lê Minh (sinh ngày 11 tháng 12 năm 1966) là nam diễn viên, ca sĩ Hồng Kông nổi tiếng vào đầu thập niên 90. Anh cùng Trương Học Hữu, Lưu Đức HoaQuách Phú Thành được giới truyền thông ca ngợi là "Tứ đại thiên vương" của làng nhạc pop Quảng Đông.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Lê Minh sinh ra tại Bắc Kinh, Trung Quốc trong gia đình có nguồn gốc thuộc huyện Mai, Quảng Đông. Cha mẹ đã ly dị khi anh mới lên 4 tuổi. Lê Minh cùng với cha mình, một Hoa Kiều Malaysia, Lai Xingsheng đã đến Hồng Kông trong cuộc cách mạng văn hóa tại Trung Quốc. Khi 15 tuổi, anh theo học trường King's Way Princeton CollegeAnh. Năm 1984, anh quay trở về Hồng Kông năm 18 tuổi.[1][2]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Thời kỳ đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Ban đầu, Lê Minh làm nhân viên tiếp thị cho một công ty điện thoại di động.[1]. Sau khi đạt giải ba trong cuộc thi ca hát Tài Hoa Tân Tú, anh nhận được khóa huấn luyện ca hát của Dai Si Zong (戴思聰).[3] Cũng trong năm đó, anh ký hợp đồng nghệ sĩ với Capital Artists.[4] Lê Minh đã không phát hành bất cứ album nào trong vòng 4 năm.[5] Vì vậy, thầy dạy nhạc của anh, ông Dai đã sắp xếp cho anh ký hợp đồng với hãng Polygram, sau này là Universal Music.[6]

Ca nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Khi gia nhập Polygram, Lê Minh đã phát hành album đầu tiên "Leon" và album tiếp theo là "Tương phùng dưới mưa". Album đầu tiên của anh nhận được giải thưởng album vàng.[7] Sau khi hoạt động vài năm tại Polygram, anh đã ký một hợp đồng mới với hãng Sony Music vào ngày 23 tháng 3 năm 1998.

Cùng với Trương Học Hữu, Lưu Đức HoaQuách Phú Thành, Lê Minh là một trong 4 ca sĩ nổi tiếng nhất trong những năm 1990, khi đó giới truyền thông gọi họ là Tứ Đại Thiên Vương của làng nhạc Canto Pop.

Thời gian đầu khi khởi nghiệp, Lê Minh chủ yếu hát nhạc cantopop (nhạc pop bằng tiếng Quảng Đông), nhưng sau đó do ảnh hưởng bởi nhà sản xuất Mark Lui, anh đã mở rộng thể loại nhạc bao gồm những bài hát điện tử phổ biến với những video ca nhạc hấp dẫn. Năm 1990, anh đã đạt giải thưởng đầu tiên 1990 Jade Solid Gold Top 10 Awards1990 RTHK Top 10 Gold Songs Awards.[8][9] Sau đó, anh tiếp tục dành giải thưởng "Nam ca sĩ nổi tiếng nhất" vào năm 1993 và 1995 của giải thưởng Giai điệu vàng của TVB.[10][11] Năm 1996, anh cộng tác với nhà nhạc sĩ kiêm nhà sản xuất Steve Barakatt trong album "Feel". Hai năm sau, vào năm 1998, anh đã trở thành ca sĩ Hồng Kong đầu tiên lọt vào bảng xếp hạng Top 10 K-pop chart với bài hát "After loving you".[12] Năm 1999, anh tuyên bố anh sẽ không nhận thêm bất cứ giải thưởng nào nữa tại Hồng Kông.

Năm 2002, anh được chọn để hát ca khúc "Charged up", bài hát chủ đề cổ vũ cho đội Trung Quốc tại Vòng chung kết bóng đá thế giới năm 2002..[13]. Năm 2004, anh trở thành ca sĩ Hồng Kong đầu tiên đại diện cho lãnh thổ tham dự Asia Song Festival lần đầu tiên được tổ chức ở Hàn Quốc.[14]

Lê Minh được lựa chọn là đại sự của Thế vận hội mùa đông lần thứ 6 được tổ chức ở Trường Xuân vào năm 2007. Anh đã hát bài hát chủ đề của thế vận hội và tham giao vào cuộc chạy tiếp sức rước đuốc tại sự kiện này.[15] Sau đó anh hợp tác với Michael WongJanice Vidal tổ chức buổi hoàn nhạc từ thiện "Magic Live" kéo dài 3 ngày tại sân khấu Star Hall, Hồng Kông từ ngày 9 tháng 11 đến ngày 11 tháng 11 năm 2008.[16]

Các bài hát song ca[sửa | sửa mã nguồn]

Không chỉ là một nghệ sĩ solo, Lê Minh còn từng cộng tác với nhiều nghệ sĩ khác, Một vài trong số những bài hát song ca của anh bao gồm: "Love Until the End" và "A Happy Family" với Châu Huệ Mẫn, "Really Wish to Be Like This Forever" và "It's Still You" với Priscilla Chan, "Song of the Star" với Alan Tam, "Never Give Up" với Trương Học Hữu, "Why did I let you go?" với Janice Vidal.[17]

Sáng lập công ty đào tạo ca sĩ[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2004, Lê Minh thành lập công ty thu âm mới tên "A Music", East Asia Record Production Company Limited, cùng với Peter Lam. Album đầu tiên do công ty sản xuất mang tên "Dawn" được phát hành vào tháng 9 cùng năm. Album "Dawn" được phát hành có rất ít chuyến tuyên truyền do anh phải đến Trung Quốc để đóng phim trong ngày album được phát hành.[18]

Để mang đến những điều thú vị mới trong âm nhạc, Lê Minh đã mời nhà sản xuất âm nhạc nổi tiếng Jonathan Lee từ Đài Loan vào năm 2005 để sản xuất cho album tiếng quan thoại "A Story" của anh. Tuy nhiên, do phải thực hiện album, nên anh đã bỏ lỡ cơ hộ đóng vai chính trong bộ phim điện ảnh có kinh phí lớn của Đài Loan "Gui Si" do trùng với lịch làm việc của anh.[19]

Lê Minh quay trở lại nhà hát Hong Kong Coliseum vào ngày 13 tháng 4 năm 2007 để biểu diễn một đêm diễn duy nhạc Leon 4 in Love Concert. Tại đây, anh không chỉ biểu diễn những bài hit của anh mà cả những bài hit của 3 thiên vương còn lại. Anh đã biểu diễn tổng cộng 18 bài hát, tất cả đều được Mark Lui làm mới lại. Tiếp sau đó, anh đã phát hành album mang tựa đề "4 In Love" vào ngày 3 tháng 5 năm 2007, bao gồm 16 trong số 18 bài hát anh đã biểu diễn tại buổi hòa nhạc.[20]

Hoạt động cộng đồng[sửa | sửa mã nguồn]

Không chỉ là một diễn viên kiêm ca sĩ, Lê Minh còn hoạt động tích cực trong Community Chest. Vào những năm 1990, anh bắt đầu làm từ thiện khi cha anh bị chẩn đoán mắc chứng carcinoma của bệnh trực tràng. Các bác sĩ tuyên bố không thể chữa được. Nhưng sau đó, cha anh đã sống sót sau một ca phẫu thuật thần kỳ. Khi tổ chức nghiên cứu về ung thư và tổ chức Liên hợp quốc đã tiếp cận anh và yêu cầu sự giúp đỡ, anh bắt đầu tham gia các hoạt động từ thiện tích cực.[21]

Công việc từ thiện đầu tiên của anh cho UNICEF là dự án tiêu diệt bệnh viêm tủy tại Trung Quốc vào năm 1993. Anh đã gia tăng số tiền đóng góp vào các quỹ từ lời kêu gọi người hâm mộ, các fan và tiền bán vé biểu diễn ca nhạc, Tháng 7 năm 1994, anh được bổ nhiệm làm đại sứ thiện chí của UNICEF và trở thành công dân Hồng Kông đầu tiên được giao nhiệm vụ này. Kể từ năm 1994, anh đã tham gia rất nhiều hoạt động gây quỹ khác nhau của ủy ban Liên hợp quốc tại Hồng Kông bao gồm: 7 buổi hòa nhạc từ thiện, ba buổi bán chocolate từ thiện và ba cuộc chạy bộ từ thiện. Lê Minh và các đại diện của HKCU đã viếng thăm Rwanda, thuộc tỉnh Gansu, Trung Quốc và Brasil để nghiên cứu công việc của UNICEF và để giúp đỡ tuyên truyền ý thức cộng đồng nhằm giúp đỡ trẻ em."[22] Tháng 12 năm 1995, anh được bổ nhiệm là "đại diện đặc biệt của thanh niên của UNICEF" tại văn phòng đại diện của UNICEF tại New York vì những đóng góp của anh cho phúc lợi của trẻ em.[22]

Lê Minh từng được bầu chọn là một trong mười Thanh niên kiệt xuất (TOYP) vào năm 1997, anh được công nhận chính thức vì những nỗ lực trong nghề nghiệp và những đóng góp đối với cộng đồng.[23] Anh đã mua vé quyên góp đầu tiên với số là 000001 tại sự kiện "Chiến dịch gây quỹ giáo dục trẻ em " tổ chức tại sân khấu Hồng QuánPARKnSHOP thông qua điểm bán vé trên mạng Skyline Superstore vào năm 2001 để khuyến khích mọi người góp phần vào hoạt động xã hội đầy ý nghĩa này. Việc gây quỹ này sẽ được quyên góp chuyển cho tổ chức Community Chest.[24]

Anh đã được ông Đổng Kiến Hoa, tổng thống của Hồng Kông trao tặng Huy chương danh dự (M.H.) vào ngày 12 tháng 10 năm 2003.[23]

Kể từ khi quyết định không nhận bất cứ giải thưởng âm nhạc tại Hồng Kông, anh đã không xuất hiện tại lễ trao giải top 10 giai điệu vàng của đài TVB thậm chí là trong vai trò khách mời. Nhưng để kêu gọi quyên góp quỹ từ thiện, anh đã đồng ý biểu diễn tại buổi trao giải với vai trò khách mời vào ngày 8 tháng 1 năm 2005.

Vào ngày 13 tháng 5 cùng năm này, Lê Minh cộng tác với Mark Lui sáng tác bài hát 8858. Bài hát được sử dụng như bài hát tuyên truyền cho quỹ "Trẻ em và trẻ vị thành niên Trung Quốc". Tựa đề bài hát là "Help me (nghe như 'bang bang wo ba' trong tiếng Phổ thông)" và con số "8858" đại diện cho số SMS mà mọi người có thể sử dụng để quyên góp tiền.[25][26] Một sự thay đổi gây ngạc nhiên là vào tháng 12 năm 2005, Lê Minh đã xuất hiện trong một đoạn quảng cáo trên truyền hình của chính phủ Hồng Kông để yêu cầu công chúng ủng hộ về việc cải cách từ từ về chính trị được chính phủ đưa ra thảo luận thay vì yêu cầu những cải cách nhanh chóng về chính trị trong cuộc phải đối về quyền dân chủ tại Hồng Kông vào tháng 12 năm 2005. Điều này đã đánh dấu việc lần đầu tiên anh tham gia quảng cáo về lĩnh vực chính trị.[27]

Sự cố[sửa | sửa mã nguồn]

Sự cố về bài hát quốc ca thương mại[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2000, Bài hát Toàn nhật ái (全日愛) của Lê Minh đã gặp vấn đều về tác quyền với chính phủ Trung Quốc vì đưa một đoạn trong Quốc ca Trung Quốc Nghĩa dũng quân tiến hành khúc. Giai điệu trong đoạn đầu tiên cũng giống với giai điệu của Quốc ca. Anh bị cảnh bảo việc sử dụng bài hát vì mục đích thương mại.[28][29]

Các phim điện ảnh đã đóng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên tiếng Hoa Tên tiếng Anh Tên tiếng Việt Các diễn viên khác Ghi chú
2011 鸿门宴 White Vengeance Hồng Môn Yến Huỳnh Thu Sanh
2010 火龍對決 Fire of Conscience Hỏa Long đối quyết Nhậm Hiền Tề
2009 十月围城 Bodyguards And Assassins Thập Nguyệt Vi Thành Lương Gia Huy, Trương Học Hữu
2008 梅蘭芳 Forever Enthralled Mai Lan Phương Chương Tử Di
2008 江山美人 An Empress and the Warriors Giang Sơn Mỹ Nhân Trần Tuệ Lâm
2007 心中有鬼 The Matrimony Tâm Trung Hữu Quỷ Phạm Băng Băng
2006 緣邀知音 Melody Looking Lục yêu tri âm Đỗ Văn Trạch, Vệ Lan, Vệ Thi
2005 情義我心知 Moonlight In Tokyo
2005 七劍 Seven Swords Thất kiếm Chân Tử Đan
2004 大城小事 Leaving Me, Loving You Đại thành tiểu sự Vương Phi
2003 無間道III終極無間 Infernal Affairs III Vô Gian Đạo 3 Lưu Đức Hoa, Lương Triều Vỹ
2003 金雞2 Golden Chicken 2 Kim kê 2 Lưu Đức Hoa, Trương Học Hữu
2003 雙雄 Heroic Duo Song hùng Trịnh Y Kiện
2002 三更 Three Tam canh (Canh 3) Tăng Chí Vĩ Đoạt giải Kim Mã "Nam diễn viên chính xuất sắc nhất" năm 2003
2001 不死情謎 Bullets of Love Bất tử tình mê
2001 情迷大話王 Everyday Is Valentine Tình mê đại thoại vương
2001 天使夢 Dream of a Warrior Giấc mơ thiên sứ
2000 神偷次世代 Skyline Cruisers Thời đại trộm cắp
2000 一見鍾情 Sausalito Duyên tình Sausalito Trương Mạn Ngọc
1998 真心英雄 A Hero Never Dies Chân tâm anh hùng Lưu Thanh Vân
1998 玻璃之城 City of Glass Đô thị thủy tinh Thư Kỳ
1998 新戀愛世紀 Love Generation Hong Kong
1997 賭神三之少年賭神 God of Gamblers 3: The Early Stage Đổ thánh 3 / Thần bài 3 Viên Vịnh Nghi
1997 愛你愛到殺死你 Killing Me Tenderly
1997 半生緣 Eighteen Springs Bán sanh duyên Ngô Thanh Liên
1996 甜蜜蜜 Comrades: Almost a Love Story Điềm mật mật Trương Mạn Ngọc
1995 墮落天使 Fallen Angels Đọa lạc thiên sứ / Thiên thần gãy cánh Lý Gia Hân, Kaneshiro Takeshi, Mạc Văn Úy
1994 都市情緣 Love and the City Đô thị tình duyên Ngô Thiên Liên
1993 初生之犊 Fearless Match
1993 城市獵人 City Hunter Thành thị điệp nhân (Thợ săn trong Thành phố) Thành Long, Vương Tổ Hiền
1992 飛狐外傳 The Sword of Many Lovers Phi Hồ ngoại truyện
1992 龍騰四海 Gun and Rose Long đằng tứ hải Lưu Đức Hoa
1992 神算 The Magic Touch Thần toán
1992 妖獸都市 The Wicked City Thành phố yêu thú Trương Học Hữu
1992 伙頭福星 Shogun and His Little Kitchen Hỏa đầu phúc tinh
1991 痴情快婿 Fun & Fury Chàng rể si tình Châu Huệ Mẫn
1991 豪門夜宴 Party of a Wealthy Family/The Banquet Hào môn dạ yến
1991 明月照尖東 With or Without You Trương Học Hữu
1991 一族 Fruit Punch Yes Nhất tộc
1989 四千金 Four Loves Tứ Thiên Kim
1987 少女心 Hearts, no flowers Lòng thiếu nữ
1986 美男子 Mr. Handsome Anh chàng đẹp trai

Các phim truyền hình TVB đã đóng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên tiếng Hoa Tên tiếng Anh Tên tiếng Việt Các diễn viên khác
1994 阿SIR早晨 Class Of Distinction Giáo sư ưu ái / Xin chào thầy Tuyên Huyên, Cổ Thiên Lạc, Lý Ỷ Hồng
1993 原振俠 The Legendary Ranger Nguyên Chấn Hiệp Vương Phi, Lý Gia Hân, Châu Nhân, Ngô Đại Dung, Tiền Gia Lạc, Hồng Hân
1991 今生無悔 The Breaking Point Kim sanh vô hối / Đời không nuối tiếc / Tiêu điểm gãy Ôn Triệu Luân, Chu Hải Mị, Thiệu Mĩ Kì
1991 人在邊緣 Challenge Of Life Nhân tại biên duyên / Người nơi biên giới La Huệ Quyên, Trần Pháp Dung, Lê Mỹ Nhàn, Lâm Văn Long, Lưu Thanh Vân
1990 回到未嫁時(挑戰未來) Cherish Moments Trở về thời con gái Châu Hải Mị, Lâm Gia Huê, Lý Điện Lãng, Trịnh Kính Cơ, Trương Thái Mi
1989 天涯歌女 Song Bird Thiên nhai ca nữ Trần Tùng Linh, Quách Phú Thành
1990 晋文公傳奇 Tấn Văn Công truyền kì La Huệ Quyên
1988 兵權 Binh quyền Thiệu Mỹ Kỳ
1988 回到唐山 Yankee Boy Trở về Đường Sơn Lê Mĩ Nhàn, Tái Chí Vĩ
1987 飛越霓裳 A Friend in Need Đôi Bạn Tình Sầu Nhậm Đạt Hoa, Thích Mỹ Trân
1986 男兒本色 Foundlings Progress Nam nhi bản sắc

Các album đã phát hành[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếng Quảng Đông[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2007

Năm 2006

  • 展望 (Triển vọng)

Năm 2005

  • 長情 (Trường tình)
  • 愛與承諾 2004/2005 Special Edition

Năm 2004

  • Leon Dawn
  • 大城小事原聲大碟 Leaving Me Loving You OST

Năm 2002

  • Homework
  • 2002世界盃衝鋒陷陣 Leon Charged Up

Năm 2001

  • 紅鞋 (Hồng hài / Đôi giày đỏ)
  • 喜 Hey
  • 紅鞋...進化 (Hồng hài... tiến hóa)

Năm 2000

  • 北京站 Beijing Station
  • Leon Club Sandwich

Năm 1999

  • 眼睛想旅行 Eyes Want to Travel
  • Leon Now

Năm 1998

  • 我這樣愛你 I Love You Like This
  • 玻璃之城電影原聲大碟 City of Glass OST
  • 如果可以再見你 If I Can See You Again

Năm 1997

  • 假如 (Nếu như)
  • Leons
  • Leon Sound

Năm 1996

  • Perhaps
  • 感應 (Cảm ứng)

Năm 1995

  • 天地豪情 (Thiên địa hào tình)
  • 夢.追蹤 Dream Chase

Năm 1994

  • 天地情緣 Love Between Sky and Earth
  • 情緣 (Tình duyên)
  • 火舞艷陽 (Hỏa vũ diễm dương)

Năm 1993

  • 我的另一半 (Một nửa riêng của anh)
  • 夏日傾情 (Nhật hạ khuynh tình / Ngày hè yêu đương)
  • 夢幻古堡 Chateau de Reve

Năm 1992

  • 但願不只是朋友 (Mong mình không chỉ là bạn)
  • 傾城之最 (Khuynh thành chi tối)
  • I love you, OK?

Năm 1991

  • 親近你 (Gần bên em)
  • 是愛是緣 (Là duyên, là tình)
  • 我的感覺 (Cảm giác của anh)

Năm 1990

  • 相逢在雨中 (Tương phùng dưới mưa)
  • Leon

Tiếng Phổ Thông, Nhật Bản và Hàn Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2005

  • A Story 一个故事

Năm 2004

  • Leon Dawn
  • You Are My Friend (bản tiếng Hàn)
  • Hot & Cool (bản tiếng Nhật)

Năm 1999

  • Never Ever (bản tiếng Hàn)
  • None But Me 非我莫屬
  • Leon Now (bản tiếng Hàn)

Năm 1998

  • 如果可以再見你 (Nếu như gặp lại được em - tiếng Nhật)
  • Korean Soundtrack
  • 玻璃之城電影原聲大碟 (Nhạc phim Thành phố pha lê - bản tiếng Hàn)
  • 如果可以再見你 (Nếu như còn gặp được em - bản tiếng Hàn)
  • Longing 嚮往 (Hướng vãng)

Năm 1997

  • Disagreement of Words and Thoughts 口不對心
  • DNA Gone Wrong DNA出錯
  • I Love You So Much (bản tiếng Hàn) 我這樣愛你
  • The World of Leon Lai (bản tiếng Hàn)

Năm 1996

  • 為何你不是我的未來 (Sao em không là tương lai của anh)

Năm 1995

  • 愛難求 (Tình nan cầu)

Năm 1994

  • 為我停留 (Vì anh ở lại)
  • 我的真心獻給你 (Chân tâm dâng hiến cho em)

Năm 1993

  • Autumn Dawn 秋天的黎明

Năm 1992

  • 堆積情感 (Tình cảm chất đầy)

Năm 1991

  • 今夜你會不會來 (Tối nay em về không)

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “Leon intro”. xinhuanet.com. Ngày 17 tháng 2 năm 2005. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2007. 
  2. ^ Chinareviewnews.com. "Chinareviewnews.com." 黎明回家乡个唱 称心中永远都有红五星. Retrieved on 2010-05-31.
  3. ^ Leon Lai: My Teacher is in my heart, Sina, Retrieved on 2010-07-20
  4. ^ Will Capital Artist stage a comeback news.xinhuanet.com Retrieved on 26-08-2007
  5. ^ Leon nearly didn't make it in the entertainment industry epochtimes.com Retrieved on 26-08-2007
  6. ^ Leon and Li Chin xinhuanet.com Retrieved on 26-08-2007
  7. ^ Dai Si Zong and Leon ent.sina.com.cn Retrieved on 26-08-2007
  8. ^ TVB.com. "TVB.com." 1990 Jade Solid Gold Top 10 Awards. Retrieved on ngày 12 tháng 7 năm 2009.
  9. ^ RTHK.org. "RTHK.org." 1990 RTHK Top 10 Gold Songs Awards. Retrieved on ngày 12 tháng 7 năm 2009.
  10. ^ TVB.com. "TVB.com." 1993 Jade Solid Gold Top 10 Awards. Retrieved on ngày 12 tháng 7 năm 2009.
  11. ^ TVB.com. "TVB.com." 1995 Jade Solid Gold Top 10 Awards. Retrieved on ngày 12 tháng 7 năm 2009.
  12. ^ L-News Issue #7 leonfamily.com Retrieved on 29-08-2007
  13. ^ Yesasia.com. "Yesasia.com." LEON 世界盃衝鋒陷陣. Retrieved on ngày 12 tháng 7 năm 2009.
  14. ^ Sina.com. "Sina.com." 濱崎步台上演唱狂望黎明. Retrieved on ngày 21 tháng 10 năm 2009.
  15. ^ Leon Lai named ambassador of Asian Games english.sina.com Retrieved on 20-09-2007
  16. ^ HK-magazine.com."HK-magazine." HK Picks magic live. Retrieved on ngày 21 tháng 10 năm 2009.
  17. ^ Leon's Live Audio Collection leonfamily.com Retrieved on 29-08-2007
  18. ^ hkvpradio december 2004 newsletter hkvpradio.com Retrieved on 29-08-2007
  19. ^ Leon gave up movie role for album ent.sina.com Retrieved on 29-08-2007
  20. ^ Leon Lai's 4 In Love Album yesasia.com Retrieved on 13-09-2007
  21. ^ Leon Lai on himself and Infernal Affairs III newsgd.com Retrieved on 20-09-2007
  22. ^ a ă UNICEF HKCU unicef.org.hk Retrieved on 08-09-2008 Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “hkcu” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  23. ^ a ă HK awards Medal of Honour music.ent.tom.com Retrieved on 10-10-2007
  24. ^ Children's Education Fund Raising Campaign hutchison-whampoa.com Retrieved on 20-09-2007
  25. ^ 8858 Care for the Children ent.people.com.cn Retrieved on 20-09-2007
  26. ^ Leon co-composed the theme song of the children and teenagers' fund news.xinhuanet.com Retrieved on 20-09-2007
  27. ^ Pop star Leon Lai campaigns for HK's go-slow democracy plan english.sina.com Retrieved on 20-09-2007
  28. ^ Peopledaily.com.cn. "Peopledaily.com.cn." 星聞快遞. Retrieved on ngày 12 tháng 7 năm 2009.
  29. ^ Leon Learns the Score When It Comes to Loving the Motherland Asiaweek ngày 19 tháng 5 năm 2000 asiaweek.com Retrieved on 29-08-2007