Lê Nguyên Khang

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
LÊ NGUYÊN KHANG
Tiểu sử
SinhTháng 10 năm 1931
Sơn Tây, Việt Nam
Mất(1996-11-12)12 tháng 11, 1996 (65 tuổi)
Los Angeles, California
Hoa Kỳ
Binh nghiệp
Phục vụFlag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
ThuộcFlag of the Army of the Republic of Vietnam.jpg Quân lực VNCH
Năm tại ngũ1951-1975
Cấp bậcUS-O9 insignia.svg Trung tướng
Đơn vịTổ quốc - Đại dương.gif Hải quân VNCH[1]
Republic of Vietnam Marine Division SSI.png Thủy quân Lục chiến[2]
ARVN Capital Military Zone Unit SSI.svg Biệt khu Thủ đô
QD III VNCH.jpg Quân đoàn III và QK 3
ARVN Joint General Staff Insignia.svg Bộ Tổng Tham mưu[3]
Chỉ huyFlag of the Vietnamese National Army.svg Quân đội Quốc gia
Flag of the Army of the Republic of Vietnam.jpg Quân lực VNCH
Tham chiếnChiến tranh Việt Nam
Công việc khácFlag of the Philippines.svg Tuỳ viên Quân sự[4]

Lê Nguyên Khang (1931-1996), nguyên là một tướng lĩnh gốc Hải quân của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Trung tướng Ông xuất thân từ khóa đầu tiên tại trường Sĩ quan Trừ bị do Quốc gia Việt Nam mở ra ở miền Bắc Việt Nam. Ra trường, ông phục vụ trong Quân chủng Hải quân, sau chuyển sang bộ phận Bộ binh Hải quân (Thuỷ quân Lục Chiến).[5] Hầu hết thời gian tại ngũ, ông phục vụ trong Binh chủng này. Ông là người chỉ huy Binh chủng Thủy Quân Lục Chiến với thời gian lâu nhất. Ông cũng từng là chỉ huy đơn vị cấp Biệt khu, Quân đoàn và là sĩ quan giữ chức vụ cao cấp tại Bộ Tổng Tham mưu.

Tiểu sử và Binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh vào tháng 10 năm 1931 trong một gia đình gia giáo thuộc dòng tộc "Lê Nguyên" danh tiếng ở Sơn Tây, miền Bắc Việt Nam.[6] Ông học Tiểu học và Trung học Đệ nhất cấp ở Sơn Tây. Khi lên Đệ nhị cấp ông được ra Hà Nội học ở trường Trung học Chu Văn An,[7] là trường Công lập của nhà nước dạy theo Giáo trình Pháp. Năm 1951, ông tốt nghiệp với văn bằng Tú tài bán phần (Part I).[8]

Quân đội Quốc gia Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 9 năm 1951, sau khi tốt nghiệp Phổ thông Trung học, ông tình nguyện nhập ngũ vào Quân đội Quốc gia, mang số quân: 51/700.272. Theo học khóa 1 Lê Lợi tại trường Sĩ quan trừ bị Nam Định,[9] khai giảng ngày 1 tháng 10 năm 1951. Ngày 1 tháng 6 năm 1952 mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy. Ra trường ông được phục vụ trong đơn vị Hải quân. Cuối năm 1953, ông được thăng cấp Trung úy giữ chức Giang đoàn trưởng thuộc Đệ tam Liên đoàn Tuần giang Xung kích tại Nam Định.

Quân đội Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu năm 1955, ông được thăng cấp Đại úy, làm Đại đội trưởng Đại đội Hành chính Công vụ của Tiểu đoàn Bộ binh Hải quân. Giữa năm 1956, ông được cử đi du học lớp Bộ binh Cao cấp tại trường Võ bị Liên quân Fort Benning thuộc Tiểu bang Georgia, Hoa Kỳ. Mãn khóa về nước, ông được cử làm Sĩ quan Liên lạc của Thuỷ quân Lục chiến bên cạnh Bộ Tư lệnh Hải Quân. Tháng 9 năm 1957, ông giữ chức vụ Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Hải quân Đổ bộ[10] thay thế Đại úy Vòng A Sam, đồn trú tại Động Ba Thìn, Khánh Hòa. Tháng 5 năm 1958, ông tiếp tục được cử đi du học lớp Tham mưu đổ bộ tại Trung tâm Huấn luyện Thủy quân Lục chiến Quantico thuộc Tiểu bang Virginia, Hoa Kỳ.[11] Mãn khóa về lại đơn vị cũ.

Đầu năm 1960, chuyển qua Tiểu đoàn 1[12] Thủy quân Lục chiến làm Tiểu đoàn trưởng thay thế Đại úy Nguyễn Văn Tài,[13] được biệt phái sang lãnh vực Hành chính. Tháng 4 cùng năm, ông được thăng cấp Thiếu tá và được cử giữ chức vụ Chỉ huy trưởng Liên đoàn Thủy quân Lục chiến thay thế Thiếu tá Lê Nhữ Hùng[14] được bổ nhiệm làm Tỉnh trưởng Kiến Hòa (Bến Tre). Đầu năm 1962, ông được thăng cấp Trung tá tại nhiệm.

Sau đảo chính Tổng thống Ngô Đình Diệm ngày 1 tháng 11 năm 1963. Ngày 2 tháng 11, ông được thăng cấp Đại tá và được cử đi làm Tùy viên Quân sự tại Manila, Philippines, sau khi bàn giao Liên đoàn Thủy quân Lục chiến lại cho Trung tá Nguyễn Bá Liên. Tháng 4 năm 1964, sau cuộc Chỉnh lý của tướng Nguyễn Khánh, ông được triệu hồi về nước, tái nhiệm chức vụ Tư lệnh Liên đoàn Thủy quân lục chiến,[15] hoán chuyển nhiệm vụ với Trung tá Nguyễn Bá Liên thay ông làm Sĩ quan Tuỳ viên ở Philippines. Ngày 11 tháng 8 năm 1964, ông được thăng cấp Chuẩn tướng[16] tại nhiệm. Hơn 2 tháng sau vào ngày 21 tháng 10, ông được thăng cấp Thiếu tướng tại nhiệm.[17]

Ngày 14 tháng 4 năm 1965, ông được cử Xử lý Thường vụ chức vụ Tư lệnh Hải quân tạm thời thay thế Đề đốc Chung Tấn Cang, nhưng sau đó ông từ chối chức vụ này với lý do không xuất thân từ Quân chủng Hải Quân và hơn 10 ngày sau, ngày 26 tháng 4 ông bàn giao Bộ Tư lệnh Hải quân lại cho Hải quân Đại tá Trần Văn Phấn[18]. Ngày 5 tháng 5, ông được kiêm nhiệm chức vụ Tổng trấn Sài Gòn-Gia Định. Một tháng sau, ông được giao kiêm nhiệm thêm chức vụ Tư lệnh Biệt khu Thủ đô. Ngày 9 tháng 6 năm 1966, ông kiêm chức vụ Tư lệnh Quân đoàn III và Vùng 3 Chiến thuật[19]thay thế Thiếu tướng Nguyễn Bảo Trị, đồng thời bàn giao Biệt khu Thủ đô và chức vụ Tổng trấn Sài Gòn-Gia Định lại cho Đại tá Nguyễn Văn Giám[20] Ngày Quốc khánh lần thứ năm của nền Đệ nhị Cộng hòa 1 tháng 11 cùng năm, ông được thăng cấp Trung tướng tại nhiệm. Tháng 8 năm 1968, sau trận Mậu thân đợt 2, ông tiếp tục bàn giao lại cho Trung tướng Đỗ Cao Trí chức vụ Tư lệnh Quân đoàn III,[21] chỉ còn được giữ chức vụ Tư lệnh Sư đoàn Thủy quân Lục chiến.[22]

Đầu tháng 5 năm 1972, sau chiến trận Mùa hè đỏ lửa, liên đới cùng tướng Hoàng Xuân Lãm (Tư lệnh Quân đoàn I) trong vụ để mất tỉnh Quảng Trị,[23] ông bị cách chức Tư lệnh Sư đoàn Thủy quân Lục chiến. Sau đó bàn giao Sư đoàn lại cho Đại tá Bùi Thế Lân (nguyên Tư lệnh phó Sư đoàn). Ông được triệu về Bộ Tổng Tham mưu giữ chức vụ Tổng Thanh tra Quân lực Việt Nam Cộng hòa (một chức vụ không có thực quyền). Tuy vậy, đến cuối năm 1974 ông được cất nhắc đảm trách chức vụ Phụ tá Hành quân cho Tổng Tham mưu trưởng.

1975[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 30 tháng 4 tháng năm 1975, cùng gia đình di tản khỏi Việt Nam. Sau đó được sang Hoa kỳ định cư ở Thành phố Los Angeles thuộc Tiểu bang California.

Ngày 12 tháng 11 năm 1996 ông từ trần tại West Covina, Los Angeles, California, Hoa Kỳ. Hưởng thọ 65 tuổi.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Hai giai đoạn phục vụ Quân chủng Hải quân:
    -Lần thứ nhất: Trung úy Giang đoàn trưởng (1953-1955)
    -Lần thứ hai: Chuẩn tướng Tư lệnh Hải quân (1965: 2 tuần).
  2. ^ Hai lần Tư lệnh Binh chủng Thuỷ quân Lục chiến:
    -Lần thứ nhất: Thiếu tá Chỉ huy trưởng Liên đoàn (1960-1962).
    -Lần thứ hai: Đại tá đến Trung tướng Tư lệnh Lữ đoàn rồi Sư đoàn.
  3. ^ Hai lần phục vụ tại Bộ Tổng Tham mưu:
    -Lần thứ nhất: Trung tướng Tổng Thanh tra (1972-1974).
    -Lần thứ hai: Trung tướng Phụ tá Tổng Tham mưu trưởng Đặc trách Hành quân (1974-1975).
  4. ^ Đại tá Tuỳ viên Quân sự cạnh Tòa Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Thủ đô Manilla của Philippines.
  5. ^ Bộ binh hải quân còn gọi là Lực lượng Thủy bộ (Hải quân đổ bộ). Năm 1956, đổi tên thành Thuỷ quân Lục chiến.
  6. ^ Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ cũng là một thành viên trong dòng tộc Lê Nguyên với tướng Khang
  7. ^ Trường Trung học Chu Văn An hiện nay là trường Trung học Phổ thông Công lập ở Thành phố Hà Nội, nguyên là trường Lycée du Protectorat (trường Trung học Bảo hộ) do Chính quyền Thuộc địa Pháp thành lập năm 1908. Vì trường được xây dựng ở vùng Kẻ Bưởi ven hồ Tây nên về sau còn được gọi là Trường Bưởi, Đến thời Chính phủ Trần Trọng Kim (1945) trường được đổi tên như hiện nay.
  8. ^ Học cùng lớp ở những năm Trung học Phổ thông tại trường Chu Văn An, đồng thời cũng cùng học khóa Lê Lợi Sĩ quan Trừ bị Nam Định với tướng Khang có hai người bạn thân. Sau này đều là tướng lãnh trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa: Trung tướng Nguyễn Bảo Trị và Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ
  9. ^ Đầu thập niên 50 của thế kỷ trước, Chính phủ Quốc gia Việt Nam sau khi thành lập Quân đội đã mở thêm ở hai miền Bắc và Nam mỗi miền một trường đào tạo sĩ quan trừ bị với mục đích huấn luyện lớp Trung đội trưởng để bổ sung cho quân đội còn sơ khai và thiếu cán bộ chỉ huy. Miền Bắc mở tại tỉnh Nam Định và miền Nam mở tại Thủ Đức thuộc tỉnh Gia Định. Hai trường này có danh xưng theo tên của nơi đặt cơ sở: trường Sĩ quan Trừ bị Nam Định và trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức.
  10. ^ Về sau đổi tên thành Tiểu đoàn 2 Thuỷ quân Lục chiến, sau nữa còn có tên là Tiểu đoàn Trâu Điên.
  11. ^ Cùng theo học khóa này có Thiếu tá Park Chung Hee Thủy quân Lục chiến Nam Hàn (Đại Hàn Dân quốc) và Thiếu tá Suharto Thủy quân Lục chiến Nam Dương (Indonesia). Hai vị này về sau lên tướng và đều làm Tổng thống Quốc gia của mình. Thiếu tướng Park chung Hee, Tổng thống Hàn quốc (1962-1979). Thiếu tướng Shuharto, Tổng thống Nam Dương (1968-1998).
  12. ^ Tiểu đoàn 1 là đơn vị được thành lập đầu tiên của Binh chủng Thuỷ quân Lục chiến, hậu thân của Tiểu đoàn Bộ binh Hải quân. Về sau còn có tên là Tiểu đoàn Quái Điểu.
  13. ^ Đại uý Nguyễn Văn Tài sau cùng là Đại tá Trung đoàn trưởng Trung đoàn 7 thuộc Sư đoàn 5 Bộ binh.
  14. ^ Thiếu tá Lê Nhữ Hùng tốt nghiệp khóa 1 Võ bị Huế. Đầu năm 1963 thăng cấp Trung tá giữ chức vụ Tham mưu trưởng Biệt bộ Tham mưu tại Phủ Tổng thống. Năm 1963, sau đảo chính Tổng thống Diệm, ông bị giải ngũ.
  15. ^ Ngày Quân lực đầu tiên 19 tháng 6 năm 1965, Liên đoàn Thủy quân Lục chiến được nâng cấp thành Lữ đoàn.
  16. ^ Cùng thăng cấp Chuẩn tướng một ngày với tướng Khang còn có các Đại tá:
    -Nguyễn Đức Thắng, Nguyễn Xuân Trang, Nguyễn Cao, Nguyễn Văn Kiểm, Đặng Văn Quang, Vĩnh LộcHoàng Xuân Lãm
  17. ^ Tướng Khang là trường hợp đặc biệt và duy nhất trong lịch sử Quân đội Việt Nam Cộng hòa, được thăng 2 cấp từ Đại tá đến Thiếu tướng với thời gian nhanh nhất chưa đầy 3 tháng. Cùng thăng cấp Thiếu tướng một ngày với ông còn có các Chuẩn tướng:
    -Nguyễn Cao Kỳ, Nguyễn Chánh Thi, Phạm Văn Đổng, Bùi Hữu Nhơn và Phó Đề đốc Chung Tấn Cang (thăng Đề đốc)
  18. ^ Đại tá Trần Văn Phấn tốt nghiệp khóa 1 Trường Sĩ quan Hải quân Nha Trang, giải ngũ năm 1967.
  19. ^ Cũng là một trường hợp đặc biệt nữa đối với tướng Khang, trong cùng một thời điểm, ông được giao đảm trách 4 chức vụ quyền lực ngay tại Trung ương:
    -Tổng trấn Sài Gòn-Gia Định.
    -Tư lệnh Biệt Khu Thủ đô.
    -Tư lệnh Quân đoàn III và Vùng 3 Chiến thuật (nơi tập trung toàn bộ Cơ quan Hành chính, Quân sự đầu não của Việt Nam Cộng hòa).
    -Tư lệnh Lữ đoàn Thủy quân Lục chiến (đơn vị Tổng trừ bị cho Bộ Tổng Tham mưu).
  20. ^ Đại tá Nguyễn Văn Giám, tốt nghiệp Trường Sĩ quan Trừ bị Nam Định, trong trận Mậu Thân 1968 ông bị thương nặng do vụ bắn lầm hoả tiễn của trực thăng Hoa Kỳ. Sau đó được giải ngũ.
  21. ^ Sở dĩ tướng Khang bị thu hồi các chức vụ do ông thuộc phe của tướng Kỳ. Thời điểm này Tổng thống Thiệu và Phó Tổng thống Kỳ đang tranh giành nhau về quyền lực. Tuy nhiên ông Thiệu được lòng người Mỹ hơn nên các sĩ quan cùng phe với ông Kỳ đều bị trù dập, có một số bị giải ngũ trước niên hạn.
  22. ^ Tháng 6 năm 1968, Lữ đoàn Thủy quân Lục chiến được trang bị hoàn chỉnh và được nâng lên cấp Sư đoàn Tổng trừ bị.
  23. ^ Cùng liên đới trong việc để mất tỉnh Quảng Trị còn có tướng Dư Quốc Đống (Tư lệnh sư đoàn Nhảy dù) cũng bị cách chức.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.