Lê Quý Đôn (HQ-286)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Lê Quý Đôn (286)
STS Le Quy Don 1.jpg
Phục vụ (Việt Nam)
Tên gọi: Lê Quý Đôn (286)
Đặt tên theo: Lê Quý Đôn là vị quan, nhà thơ thời Nhà Lê trung hưng.
Đặt hàng: 2013
Hãng đóng tàu: Nhà máy đóng tàu Marine Project Ltd, Gdansk, Ba Lan
Đặt lườn: 2 tháng 7 năm 2014
Nhập biên chế: 22 tháng 2 năm 2015
Chuyến đi đầu tiên: 22 tháng 9 năm 2015
Cảng nhà: Học viện Hải quân Việt Nam
Tình trạng: Đang hoạt động
Đặc điểm khái quát (typical)
Trọng tải choán nước: 857 tấn (đầy tải)
Độ dài: 67 m (220 ft) (tổng thể)
58,3 m (191 ft) (thân tàu)
Sườn ngang: 10 m (33 ft)
Độ cao: 5,75 m (18,9 ft)
Mớn nước: 3,6 m (12 ft)
Sải buồm: 1.400 m² (3 cột buồm)
Tốc độ: 13 hải lý một giờ (24 kilômét một giờ; 15 dặm Anh một giờ)
Tầm hoạt động: 45 ngày
Số lượng tàu con
và máy bay mang được:
4 Tàu cứu hộ nhỏ
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
30 (thủy thủ đoàn)
80(học viên)
Vũ trang: 4 x Súng máy hạng nặng WKM-Bm 12,7 mm (phiên bản NSV do Ba Lan chế tạo sử dụng cỡ đạn 12,7 x 99 mm)

Lê Quý Đôn (286) là một tàu buồm huấn luyện, gồm ba cột buồm, của Hải quân Nhân dân Việt Nam. Được đặt tên theo tên của Lê Quý Đôn, một vị quan, nhà thơ thời Nhà Lê trung hưng. Tàu thuộc biên chế của Biên đội tàu huấn luyện, Học viện Hải quân Việt Nam để sử dụng cho công tác huấn luyện. Tàu do công ty Thiết kế & Tư vấn Choreń (Ba Lan) thiết kế.

Thiết kế[sửa | sửa mã nguồn]

Con tàu được Việt Nam đặt hàng đóng từ năm 2013, khởi đóng từ 2 tháng 7 năm 2014 do công ty Thiết kế & Tư vấn Choreń, Ba Lan thiết kế.

Tàu buồm huấn luyện Lê Quý Đôn có chiều dài tổng thể 67 m (trong đó chiều dài phần thân tàu là 58,3 m). Chiều rộng 10 m. Chiều cao mạn lớn nhất 5,75 m. Mớn nước 3,6 m. Lượng giãn nước đầy tải 857 tấn. Thủy thủ đoàn gồm 30 người cùng 80 học viên. Đủ dự trữ cho hành trình 45 ngày trên biển. Có 4 tàu cứu hộ nhỏ được trang bị đi kèm trên tàu mẹ.

Tàu có 3 cột buồm lớn với chiều cao lên đến 40 m, diện tích các cánh buồm là 1.400 m2. Vũ khí trang bị trên tàu Lê Quý Đôn gồm 4 súng máy hạng nặng WKM-Bm cỡ nòng 12,7 mm (phiên bản NSV do Ba Lan chế tạo sử dụng cỡ đạn 12,7 x 99 mm). Tàu có các thiết bị thông tin liên lạc, phòng học được lập trình hoá cùng trang bị hiện đại cần thiết khác[1].

Bàn giao[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 27 tháng 9 năm 2015, tàu rời ra khơi, rời Ba Lan về Việt Nam. Gồm thủy thủ đoàn hỗn hợp Ba Lan-Việt Nam cùng điều khiển với sự điều hành của thuyền trưởng Piotr Leszczynski (Người Ba Lan), với hành trình kéo dài khoảng một tháng.

Tàu Lê Quý Đôn không thực hiện hải trình theo thông lệ như các tàu Rolldock chở theo tàu ngầm Kilo đi qua mũi Hảo Vọng (Nam Phi) để về Việt Nam, mà đi xuyên qua hai đại dương lớn nhất Trái Đất (Đại Tây Dương, Thái Bình Dương).

Tàu đi xuyên qua Đại Tây Dương, Biển Caribe, tới Cảng Colon - Kênh đào Panama thủy thủ đoàn nghỉ ngơi ngắn để hồi phục sức khỏe và để tàu bổ sung nhiên liệu, lương thực, thực phẩm cho hải trình xuyên Thái Bình Dương. Đây là lần đầu tiên có một tàu hải quân nào của Việt Nam thực hiện chuyến hành trình như vậy.

Ngày 27 tháng 1 năm 2016 tàu cập Cảng Nha Trang sau chuyến hành trình 122 ngày, dài 20.000 hải lý, trải qua 2 cơn bão cấp 11 và 4 đợt áp thấp.

Nhập biên chế[sửa | sửa mã nguồn]

Tàu được biên chế về biên đội tàu huấn luyện thực hành thuộc Học viện Hải quân ngày 22 tháng 2 năm 2015, nhằm huấn luyện, rèn luyện thủy nghiệp cơ bản, kỹ năng đi biển cho thủy thủ viễn dương và hoạt động đường dài, tham gia các hoạt động giao lưu hải quân và hàng hải quốc tế.

Ngày 10 tháng 3 năm 2015, Quân chủng Hải quân Việt Nam tổ chức lễ thượng cờ cho tàu được tổ chức tại Cảng Nha Trang, Khánh Hòa[2].

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Tàu huấn luyện Lê Quý Đôn căng buồm đi biển về Việt Nam Infonet – Báo điện tử của Bộ Thông tin và Truyền thông
  2. ^ Tàu buồm hải quân 286 Lê Quý Đôn thượng cờ Báo Thanh Niên