Lê Quang Hòa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Lê Quang Hòa (1914 - 1993) là nhà hoạt động cách mạng, Thượng tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Thiếu tướng Lê Quang Hòa tham dự hội nghị của Ban liên hiệp quân sự bốn bên năm 1973.

Tham gia cách mạng[sửa | sửa mã nguồn]

Ông tên thật là Lê Thành Kim, sinh năm 1914, quê ở xã Xuân Dục, huyện Mỹ Hào (nay là thị xã Mỹ Hào), tỉnh Hưng Yên.

Năm 1938, ông bắt đầu tham gia hoạt động trong Đoàn Thanh niên Dân chủ Hà Nội.

Năm 1939, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam).

Tháng 12/1939, ông bị thực dân Pháp bắt, kết án 5 năm tù và đi đày ở nhà tù Sơn La. Tháng 3/1945, ông vượt ngục, trở về hoạt động tại Sơn Tây, là thành viên Ban cán sự tỉnh.

Trong Cách mạng tháng Tám, ông tham gia lãnh đạo, tổ chức giành chính quyền ở Sơn Tây.

Tham gia quân đội[sửa | sửa mã nguồn]

Từ tháng 11/1945 đến 1949, ông là Chính trị ủy viên Chiến khu 3, Bí thư Quân khu ủy, Ủy viên thường vụ Liên khu ủy Liên khu 3. Năm 1949, ông là Chính ủy, Bí thư Đảng ủy Mặt trận Trung Du. 1950-1955, ông là Cục phó rồi Cục trưởng Cục Quân huấn Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Từ năm 1955-1956, ông là Hiệu trưởng kiêm Chính ủy Trường Văn hóa Quân đội kiêm Cục trưởng Cục văn hóa.

1957-1960, Chính ủy kiêm Bí thư đảng ủy Trường Sĩ quan Lục quân.

1960-1963, Chính ủy Bộ Tư lệnh Pháo binh.

Từ 1963-1967, ông là Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Tổng biên tập Báo Quân đội nhân dân.

1967-1973, Chính ủy kiêm Bí thư Đảng ủy Quân khu 4.

Năm 1973, ông là Trưởng đoàn Quân sự miền Bắc trong Ban liên hợp quân sự bốn bên (Four- Party Joint Military Commission) tại trại Davis, hàm Thiếu tướng.

1973, ông là Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam kiêm Bí thư Đảng ủy, Chính ủy đầu tiên của Quân đoàn 1.

Năm 1974 ông được thăng hàm Trung tướng.

Năm 1975, ông là Phái viên của Ban thường vụ Quân ủy Trung ươngHuế; Phó Chính ủy - Ủy viên thường trực Quân ủy Quân giải phóng miền Nam Việt Nam, Phó Chính ủy Chiến dịch Hồ Chí Minh, trực tiếp tham gia lãnh đạo cánh quân Duyên Hải rồi cánh quân phía Đông.

Năm 1976, ông tiếp tục giữ chức vụ Phó Chủ nhiệm Tổng cục chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Năm 1977, ông là Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 4.

Năm 1980, ông giữ chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam kiêm Tổng thanh tra Quân đội.

Năm 1986 ông được thăng hàm Thượng tướng.

Ngoài ra ông là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa 4.

Ông mất năm 1993 tại Hà Nội.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Ông kết hôn với bà Nguyễn Thị Minh Nhã nguyên phó chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và có người con gái là Đại tá Lê Minh Hằng – Trưởng phòng huyết học của Bệnh xá Tổng tham mưu cùng con rể là đại tá Phan Thanh Chương – Chủ nhiệm khoa A5 bệnh viện 108 và hai cháu trai.