Lê Trung Tông (Tiền Lê)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
Tiền Lê Trung Tông
前黎中宗
Vua Việt Nam (chi tiết...)
Hoàng đế Đại Cồ Việt
Tại vị 1005
(3 ngày)
Tiền nhiệm Lê Đại Hành
Kế nhiệm Lê Long Đĩnh
Thông tin chung
Tên thật Lê Long Việt (黎龍鉞)
Miếu hiệu Trung Tông (中宗)
Thân phụ Lê Đại Hành
Thân mẫu Chi hậu Diệu Nữ
Sinh 983
Hoa Lư
Mất 1005 (21–22 tuổi)
Đại Cồ Việt

Tiền Lê Trung Tông (chữ Hán: 前黎中宗; 9831005) là vị Hoàng đế thứ hai của nhà Tiền Lê, tại vị được ba ngày.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Lê Trung Tông tên húy là Lê Long Việt (黎龍鉞), sinh năm Quý Mùi 983 tại Hoa Lư, con trai thứ 3 của Lê Đại Hành, mẹ là Chi hậu Diệu Nữ[1], em trai tên Lê Long Đĩnh.

Hoàng đế Lê Đại Hành có hơn 10 hoàng tử, đều phong Vương. Năm Kỷ Sửu (989), Long Việt thụ phong tước Nam Phong vương (南封王), cùng với Kình Thiên đại vương Lê Long Thâu và Đông Thành vương Lê Long Tích.

Năm Giáp Thìn (1001), Nam Phong vương Lê Long Việt được lập làm Thái tử, lại gia phong Long Đĩnh làm Khai Minh đại vương, Long Tích làm Đông Thành đại vương. Trước đó, Long Đĩnh xin làm Thái tử, vua có ý muốn cho. Đình thần nghị bàn cho rằng không lập con trưởng mà lập con thứ là không phải lễ. Vua bèn thôi. Đến đây lập Long Việt làm Hoàng thái tử mà gia phong Long Đĩnh và Long Tích làm Đại vương.

Năm Ất Tỵ (1005), Mùa xuân, tháng 3, Lê Đại Hành mất, các hoàng tử tranh ngôi, đánh nhau 8 tháng, trong nước không có chủ. Tranh chấp chính xảy ra giữa Thái tử Long Việt và hoàng tử thứ hai Lê Ngân Tích là người lớn nhất trong số các anh em còn lại. Tháng 10 năm đó, Ngân Tích thua chạy đến châu Thạch Hà (Hà Tĩnh) thì bị người bản địa giết chết. Long Việt lên ngôi, trong nước vẫn chưa yên ổn hẳn.

Được 3 ngày, Trung Tông bị em cùng mẹ là Lê Long Đĩnh sai người trèo tường lẻn vào cung hãm hại, hưởng dương 22 tuổi. Long Đĩnh lên ngôi, truy đặt thụy cho Long Việt là Trung Tông hoàng đế, cho Lý Công Uẩn làm "Tứ sương quân phó chỉ huy sứ".

Ngô Sĩ Liên viết trong Đại Việt sử ký toàn thư: "Đại Hành băng, Trung Tông vâng di chiếu nối ngôi. Long Đĩnh làm loạn, Trung tông vì anh em cùng mẹ không nỡ giết, tha cho. Sau Long Đĩnh sai bọn trộm cướp đêm trèo tường vào cung giết Trung Tông."

Cái chết bí ẩn[sửa | sửa mã nguồn]

Đại Việt sử ký toàn thư [2] đã chép "Vua lên ngôi được 3 ngày thì bị Long Đĩnh giết. Bầy tôi đều chạy trốn, duy có Điện tiền quân là Lý Công Uẩn ôm xác mà khóc".

Theo nghiên cứu gần đây [3] thì cái chết này còn nhiều bí ẩn vì tại sao tất cả bầy tôi đều phải chạy trốn. Hành động của bọn thích khách là xông vào giết vua hay trộm trèo tường và ai là người chỉ huy đội đặc nhiệm này trong khi chỉ còn một mình Lý Công Uẩn, khi đó đang làm chỉ huy quân cấm vệ.

Hậu duệ[sửa | sửa mã nguồn]

Theo gia phả "Lê tộc sinh hạ" [4] của nhà Hậu Lê lập năm Thuận Thiên thứ ba (1430), thì sau khi Trung Tông chết, vợ là Phạm Thị Duyên và con trai là Lê Long Diên vẫn còn sống. Họ được các đại thần trung thành đưa đi trốn chạy về khu vực cửa sông Cà Lồ.

Hoàng đệ Định Phiên vương Lê Long Tung đóng ở Tư Doanh (nay là Cổ Loa, Hà Nội) và trấn trị cả vùng Ngũ Huyện Giang (thường gọi là Ngũ Huyện Khê) đã giúp đỡ con cháu của Long Việt.

Thờ phụng[sửa | sửa mã nguồn]

Lê Trung Tông không được thờ ở đền Vua Lê Đại Hành trong khu di tích Cố đô Hoa Lư (Ninh Bình) nhưng ông được đúc tượng và thờ cùng với Lê Đại Hành và vua em Lê Long Đĩnh tại 3 địa điểm khác là đền Lăng ở quê hương Liêm Cần; đình Yến ở xã Thanh Hòa đều thuộc Thanh Liêm (Hà Nam)[5] và di tích quốc gia đình An Lãng, xã Văn Tự, Thường Tín, Hà Nội.[6]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Mẹ của Lê Trung Tông Long Việt, Khâm định Việt sử thông giám cương mục chú là:"con gái quan chi hậu, tên là Diệu, không rõ họ gì" (CMCB1, 39a). Đại Việt sử lược (q.1,21a) chép là mẹ của Long Việt là "hầu Di nữ" (con gái người hầu gái người Chiêm Thành?)
  2. ^ Đại Việt sử ký bản kỷ toàn thư, Kỷ Nhà Lê, Trung Tông Hoàng Đế
  3. ^ Cái chết đầy bí ẩn của Trung Tông hoàng đế, Hồ Đắc Duy, Thư Viện TL]
  4. ^ Gia phả “Lê tộc sinh hạ” do Hội đồng gia tộc của vua Lê Lợi lập năm Thuận Thiên thứ ba (1430), khi đó anh của vua là Lê Trừ chủ trì biên soạn
  5. ^ Đền Lăng trên quê hương Hà Nam
  6. ^ Di tích quốc gia đình, đền An Lãng

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]