Lê Văn Hưng (tướng Việt Nam Cộng hòa)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bài này viết chuẩn tướng Lê Văn Hưng của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, các nhân vật cùng tên xem tại bài Lê Văn Hưng (định hướng)
Lê Văn Hưng
Levanhung.jpg
Hình ảnh quen thuộc của tướng Lê Văn Hưng, đầu đội nón sắt, quần áo lính màu ô liu, tay mang súng M16
Tiểu sử
Sinh

27 tháng 3, 1933(1933-03-27)

Hóc Môn, Việt Nam
Mất

30 tháng 4, 1975 (42 tuổi)

Cần Thơ
Binh nghiệp
Thuộc Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực Việt Nam Cộng hòa
Năm tại ngũ 1955-1975
Cấp bậc US-O8 insignia.svg Thiếu tướng
Chỉ huy Flag of South Vietnam.svg Quân đội Quốc gia Việt Nam
Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực Việt Nam Cộng hòa

Lê Văn Hưng (1933-1975), nguyên là một tướng lĩnh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, mang quân hàm Chuẩn tướng. Ông xuất thân từ những khoá đầu tại trường Sĩ quan Trừ bị do Chính phủ Quốc gia được sự hỗ trợ của Quân đội Pháp đã mở ra ở Nam phần với mục đích đào tạo sĩ quan người Việt. Sau khi tốt nghiệp, ông được chọn phục vụ trong đơn vị bộ binh. Ông đã tuần tự giữ những chức vụ ban đầu là một Trung đội trưởng cho đến Tư lệnh Sư đoàn bộ binh. Có một thời gian ngắn ông được chuyển sang lĩnh vực hành chính quân sự với những chức vụ Quận trưởng, Tỉnh trưởng. Sau cùng ông được tín nhiệm giữ chức Tư lệnh phó một Quân đoàn. Ông là một trong năm tướng lĩnh đã tự sát trong sự kiện 30 tháng 4 năm 1975.

Tiểu sử & Binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 27 Tháng 3 năm 1933 tại Hóc Môn, Gia định. Ông mồ côi cha từ nhỏ, ở với thân mẫu là cụ Trương Thị Đức và dưỡng phụ là cụ Trần Văn Kiển (nguyên trưởng Ty Quan thuế Biên Hòa). Thời Trung học, ông học ở trường Trung học phổ thông Huỳnh Khương Ninh, Sài Gòn và tốt nghiệp năm 1952 với văn bằng Tú tài 1. Sau đó, ông được tuyển dụng làm việc cho một Công ty người Pháp tại Sài Gòn.

Giữa năm 1954, Thi hành lệnh tổng động viên, ông nhập ngũ vào Quân Đội Quốc Gia, mang số quân: 53/115.100. Theo học khoá 5 Vì Dân tại trường Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức (khai giảng ngày 16/6/1954, mãn khoá ngày 1/2/1955). Tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy hiện dịch.

Quân đội Việt Nam Cộng hoà[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 2 năm 1955, ra trường ông được điều đi làm Trung đội trưởng trong Tiểu đoàn 13 Việt Nam (thành lập 11/4/1951 tại Cần Thơ), đồn trú tại Bình Mỹ, Châu Đốc. Sau khi nền Đệ nhất Cộng hoà ra đời và Quân đội Quốc gia được cải danh thành Quân đội Việt Nam Cộng hòa, ông đã cùng đơn vị trực tiếp tham dự chiến dịch Đinh Tiên Hoàng bình định miền Tây do Đại tá Dương Văn Đức chỉ huy, chiến dịch chấm dứt vào tháng 12 cùng năm.

Đầu năm 1957, ông được thăng cấp Trung úy và được cử giữ chức Đại đội trưởng của Tiểu đoàn 13. Đến giữa năm 1959, ông thuyên chuyển qua Trung đoàn 32 thuộc Sư đoàn 21 bộ binh nhận chức Trưởng ban 2 của Trung đoàn.

Đầu năm 1961, ông được biệt phái sang lĩnh vực hành chính quân sự làm Trưởng ty Công an tỉnh Vĩnh Bình. Qua giữa năm 1962, ông được cử giữ chức Quận trưởng quận Trà Ôn thuộc tỉnh Vĩnh Bình.

Tháng 2 năm 1964, sau cuộc chỉnh lý nội bộ do tướng Nguyễn Khánh lãnh đạo, ông được thăng cấp Đại úy tại nhiệm. Sau đó được trở lại đơn vị cũ là Trung đoàn 31 bộ binh và được cử làm Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 2/31. Cuối năm, ông lên làm Tiểu đoàn trưởng của Tiểu đoàn này. Đến ngày 1 tháng 11 năm 1965, ông được đặc cách thăng cấp tại mặt trận hàm Thiếu tá tại nhiệm.

  • Vào thời điểm năm 1966, ông làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2/31, là một trong 5 vị Tiểu đoàn trưởng nổi danh tại chiến trường cực Nam, được xưng tụng là Ngũ hổ miền tây. Bốn vị còn lại có tên như sau:
  1. Thiếu tá Lưu Trong Kiệt (khoá 7 Thủ Đức, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 42 Biệt đông quân, năm 1968 tử trận khi mới 29 tuổi, được truy thăng Trung tá).
  2. Đại úy Hồ Ngọc Cẩn (khoá 2 Đặc biệt Đồng Đế, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1/33 thuộc Sư đoàn 21 bộ binh).
  3. Thiếu tá Nguyễn Văn Huy (khoá 16 Đà Lạt, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 44 Biệt động quân).
  4. Đại úy Vương Văn Trổ (khoá 10 Thủ Đức, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 3/33 thuộc Sư đoàn 21 bộ binh).

Cuối năm 1966, ông được lên chức Trung đoàn trưởng Trung đoàn 31. Đến ngày 19 tháng 6 năm 1967, ông được thăng cấp Trung tá tại nhiệm. Ngày 1/11 năm 1968, thăng cấp Đại tá tại nhiệm. Qua năm 1969, ông được cử giữ chức phụ tá hành quân cho Tư lệnh Quân đoàn IV do Thiếu tướng Nguyễn Viết Thanh làm Tư lệnh.

Trung tuần tháng 7 năm 1970, một lần nữa biệt phái sang lĩnh vực hành chính quân sự ông được bổ nhiệm làm Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng tỉnh Phong Dinh (nay là Tp Cần Thơ) thay thế Đại tá Nguyễn Văn Khương (tử trận, được truy thăng Chuẩn tướng). Thượng tuần tháng 6 năm 1971, được lệnh bàn giao chức Tỉnh trưởng & Tiểu khu trưởng Phong Dinh lại cho Đại tá Chương Dzềnh Quay (nguyên Tư lệnh phó Sư đoàn 21 bộ binh), ông được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 5 bộ binh thay thế Thiếu tướng Nguyễn Văn Hiếu về Bộ tư lệnh Quân đoàn III làm Tư lệnh phó Quân đoàn.

Tháng 3 năm 1972, ông được vinh thăng cấp Chuẩn Tướng tại nhiệm tại Bộ tư lệnh Sư đoàn ở căn cứ Lai Khê, Bình Dương. Sau chiến trận "Mùa hè đỏ lửa", tháng 7 cùng năm ông được tặng thưởng tại mặt trận Đệ tam đẳng Bảo quốc Huân chương kèm Anh dũng Bội tinh với nhành dương liễu cùng ân thưởng Huy chương đặc biệt mang danh hiệu Bình Long anh dũng. Qua tháng 9, ông được lệnh bần giao chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 5 lại cho Đại tá Trần Quốc Lịch thuyên chuyển về Quân đoàn IV giữ chức Chỉ huy trưởng Lực lượng Đặc nhiệm của Quân đoàn kiêm phụ tá hành quân cho Tư lệnh Quân đoàn là Thiếu tướng Nguyễn Vĩnh Nghi.

Thượng tuần tháng 6 năm 1973, ông được bổ nhiệm làm Tư lệnh Sư đoàn 21 bộ binh thay thế Đại tá Chương Dzềnh Quay được cử làm Tham mưu trưởng Quân đoàn IV. Ngày 1 tháng 11 năm 1974, được lệnh bàn giao Sư đoàn 21 lại cho Đại tá Mạch Văn Trường (nguyên Chánh thanh tra của Sư đoàn), để về lại Quân đoàn IV nhận chức Tư lệnh phó Quân đoàn do Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam làm Tư lệnh.

1975[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 30 tháng 4 năm 1975 vào lúc 10 giờ 45 sáng, khi được tin Tổng thống Dương Văn Minh ra lệnh cho Quân lực Việt Nam Cộng hoà buông vũ khí đầu hàng. Tại Bộ tư lệnh Quân đoàn IV ông rất đau buồn, với tinh thần bất khuất không chịu đào thoát hoặc đầu hàng địch. Theo gương tiền nhân bảo toàn khí tiết, sau khi gặp mặt thuộc cấp dặn dò, tâm tình và vĩnh biệt gia đình, ông đã tuẫn tiết tại tư dinh ở trại Lê Lợi, Cần Thơ, bằng cách dùng súng lục bắn vào tim tự sát vào lúc 20 giờ 45. Hưởng dương 42 tuổi.

Trước khi nhận lãnh trách nhiệm trước lịch sử và dân tộc để vĩnh biệt, ông đã nói:

  • Tôi bằng lòng chọn cái chết, tướng mà không giữ được nước, không bảo vệ được thành, thì phải chết theo thành.

Lễ an táng được tổ chức trong hoàn cảnh buồn thương tại khu đất của gia đình trên đường Nguyễn Viết Thanh, Thị xã Cần Thơ.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phu nhân: Bà Trương Thị Kim Hoàng (Ông bà có 2 người con: 1 trai, 1 gái)

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hoà. Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thuỵ 2011

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]