Lê Văn Nghiêm

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
LÊ VĂN NGHIÊM
Tiểu sử
Sinh 1912
Thừa Thiên, Việt Nam
Mất 27 tháng 1, 1988 (76 tuổi)
Tp HCM, Việt Nam
Binh nghiệp
Phục vụ Flag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
Thuộc Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân đội VNCH
Năm tại ngũ 1939-1965
Cấp bậc US-O9 insignia.svg Trung tướng
Đơn vị ARVN 1st Division SSI.svg Sư đoàn 1 Bộ binh
QD I VNCH.jpg Quân đoàn I và QK 1
QD III VNCH.jpg Quân đoàn III và QK 3
Cư an tư nguy.svg Võ khoa Thủ Đức
81st Airborne Commando Battalion.svg Lực lượng Đặc biệt
Chỉ huy Flag of France.svg Quân đội Pháp
Flag of France.svg QĐ Liên hiệp Pháp
Flag of the Vietnamese National Army.svg Quân đội Quốc gia
Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân đội VNCH
Tham chiến -Chiến tranh Đông Dương
-Chiến tranh Việt Nam
Khen thưởng B.Quốc H.Chương đệ III[1]
Công việc khác GĐ Nha Động viên[2]

Lê Văn Nghiêm (1912-1988), nguyên là một cựu tướng lĩnh Bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Ông xuất thân từ trường Sĩ quan của Quân đội thuộc địa Pháp mở ra ở Đông Dương. Ông đã từng tham gia Đệ Nhị Thế chiến trong đội quân của Pháp, tại những chiến trường ở Châu Âu. Sau này khi chuyển sang phục vụ Quốc gia Việt NamViệt Nam Cộng hòa, ông từng đảm nhiệm chức vụ Chỉ huy cấp Quân khu và Quân đoàn. Là một trong số ít sĩ quan được thăng cấp tướng ở thời kỳ Đệ Nhất Cộng hòa (Thiếu tướng năm 1955). Ông cũng là tướng lãnh duy nhất của Việt Nam Cộng hòa từng làm Tư lệnh của 3 Đại đơn vị tinh nhuệ của Quân lực Việt Nam Cộng hòaSư đoàn 1 Bộ binh, Lực lượng Đặc biệtBinh chủng Nhảy dù.

Tiểu sử và Binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh năm 1912 tại làng Phú Xuân, Hương Trà, Thừa Thiên, miền Trung Việt Nam trong một gia đình Nho học. Thiếu thời, ông học Tiểu và Trung học ở Huế. Năm 1930, ông tốt nghiệp Trung học Đệ Nhất cấp chương trình Pháp với văn bằng Thành Chung. Được bổ dụng làm công chức ngoại ngạch tại Huế cho đến ngày gia nhập quân đội.

Phục vụ Quân đội Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1935, ông nhập ngũ vào Quân đội Viễn chinh Pháp tại Đông Dương, theo học khóa Hạ sĩ quan. Ra trường với cấp bậc Trung sĩ phục vụ trong một đơn vị Bộ binh. Một năm sau, ông được cho theo học khóa Sĩ quan Đặc biệt, tốt nghiệp với cấp bậc Chuẩn úy. Ra trường làm Trung đội trưởng Trung đội An ninh tại Tòa Khâm Sứ Pháp ở Huế.

Năm 1939, ông tình nguyện sang Pháp, chiến đấu cho Quân đội Pháp trong Đệ nhị Thế chiến. Cuối năm, ông được đặc cách thăng cấp Thiếu úy tại mặt trận. Năm 1940, ông bị Đức Quốc xã bắt làm tù binh. Năm 1945, sau khi chấm dứt chiến tranh, ông được Pháp giải thoát và cũng nhờ các công lao chiến đấu cho nước Pháp trong chiến tranh nên ông được Chính phủ Pháp ân thưởng một số Huân chương cao quý.[3]

Quan đội Liên hiệp Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1947, vào thời điểm Việt Nam được thành lập Quốc gia trong Liên hiệp Pháp. Trở lại quê hương, ông được thăng cấp Trung úy, chuyển sang phục vụ trong Quân đội Liên hiệp Pháp với chức vụ Trưởng ban 2 Tiểu đoàn 2 thuộc Liên đoàn Lưu động số 21 Bộ binh Pháp. Đến năm 1950, ông được thăng cấp Đại úy chuyển về Đệ Nhị Quân khu giữ chức vụ Trưởng phòng 2. Cũng trong năm này, Quân đội Quốc gia Việt Nam được thành lập.

Quân đội Quốc gia Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu năm 1952, Quân đội Quốc gia Việt Nam chính thức thành lập Bộ Tổng Tham mưu, chuyển ngạch sang phục vụ Quân đội Quốc gia, ông được cử làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 30 Việt Nam tân lập tại Đông Hà Quảng Trị. Giữa năm, ông được thăng cấp Thiếu tá tại nhiệm. Tháng 9 năm 1953, ông được thăng cấp Trung tá và được bổ nhiệm làm Chỉ huy trưởng Liên đoàn Lưu động số 21 tân lập tại Trung Việt.

Quân đội Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu năm 1955 tại Huế, Liên đoàn Lưu động số 21 được nâng cấp thành Sư đoàn 21 Bộ binh.[4] ông được thăng cấp Đại tá trở thành Tư lệnh đầu tiên của Sư đoàn. Ngay sau đó, đơn vị ông được lệnh của Bộ Tư lệnh Đệ Nhị Quân khu, tấn công căn cứ Ba Lòng, bị tình nghi là của Đại Việt Quốc dân Đảng muốn chống đối chính quyền[5][6][7]. Đến giữa năm, ông được cử kiêm nhiệm chức vụ Tư lệnh Đệ Nhị Quân khu thay thế Đại tá Nguyễn Quang Hoành. Ngày 6 tháng 11 cùng năm, ông được thăng cấp Thiếu tướng.

Tháng 1 năm 1956, ông bàn giao chức vụ Tư lệnh Sư đoàn Dã chiến số 1 lại cho Đại tá Nguyễn Khánh. Đến tháng 9 cùng năm, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa, được sự ủng hộ của Hoa kỳ, đã quyết định chuyển Quân đội Việt Nam Cộng hòa, đang là một lực lượng Bảo an & Dân vệ hoạt động theo chiến lược của Edward G. Lansdale, thành một lực lượng chiến đấu theo mô hình của chiến tranh quy ước để có thể giao tranh trên những chiến trường lớn[8][9], ông được giao trọng trách huấn luyện quân đội theo mô hình mới và được bổ nhiệm làm Chỉ huy trưởng Liên Trường Võ khoa Thủ Đức thay thế Đại tá Phạm Văn Cảm, sau khi bàn giao chức vụ Tư lệnh Đệ Nhị Quân khu lại cho Thiếu tướng Thái Quang Hoàng. Đầu tháng 5 năm 1960, bàn giao Liên trường Võ khoa lại cho Đại tá Nguyễn Văn Chuân, ông được bổ nhiệm làm Tư lệnh Quân đoàn III và Vùng 3 Chiến thuật thay thế Trung tướng Nguyễn Ngọc Lễ. Đến ngày 7 tháng 2 năm 1962, bàn giao Quân đoàn III lại cho Thiếu tướng Tôn Thất Đính, chuyển ra miền Trung giữ chức vụ Tư lệnh Quân đoàn I thay thế Trung tướng Trần Văn Đôn về Trung ương làm Tư lệnh Lục quân.

Biến cố Phật giáo và Đảo chính 1963[sửa | sửa mã nguồn]

Trong Sự kiện lễ Phật đản năm 1963, vì không chấp nhận dùng quân đội để đàn áp những cuộc biểu tình bất bạo động của Phật tử miền Trung, ngày 16 tháng 9 năm 1963 ông bị triệu hồi về Sài Gòn đặt dưới quyền sử dụng của Bộ Tổng tham mưu. Quan chức cao cấp nhất của Chính phủ tại miền Trung bấy giờ là Hồ Đắc Khương, Đại biểu Chính phủ ở Trung nguyên Trung phần, cũng bị triệu hồi.

Ông cùng các tướng Dương Văn Minh, Lê Văn Kim, Phạm Xuân Chiểu, Trần Văn MinhNguyễn Ngọc Lễ là một trong nhiều nhóm bất đồng chính kiến với Chính quyền về sách lược Quốc gia và được cho là có ít nhiều dính líu đến một dự định đảo chính từ tháng 10 năm 1963.[10][11].

Sau khi Cuộc đảo chính ngày 1 tháng 11 năm 1963 thành công, ông có tên trong danh sách Hội đồng Quân nhân Cách mạng. Ngày 2 tháng 11, ông được thăng cấp Trung tướng. Sau đó, ông được đề cử giữ chức vụ Tư lệnh Lực lượng Đặc biệt thay thế Đại tá Lê Quang Tung, kiêm Tư lệnh Lữ đoàn Nhảy dù thay Đại tá Cao Văn Viên (bị cách chức tạm thời)[12]. Sau một tuần lễ kiêm nhiệm, ông bàn giao Lữ đoàn Nhảy dù lại cho Đại tá Cao Văn Viên.

Ngày 30 tháng 1 năm 1964, tướng Nguyễn Khánh thực hiện cuộc Chỉnh lý nội bộ, bắt giam các tướng Đôn-Đính-Kim-Xuân (và tướng Nguyễn Văn Vỹ mới từ Pháp về), với lý do tình nghi “trung lập”.

Ngay sau Chỉnh lý, ông được tướng Khánh bổ nhiệm vào chức vụ Chỉ huy trưởng trường Đại học Quân sự sau khi bàn giao chức vụ Tư lệnh Lực lượng Đặc biệt lại cho Đại tá Phan Đình Thứ.

Vì lý do đã không ủng hộ lập trường "trung lập", chủ trương bởi các tướng Trần Văn Đôn, Lê Văn Kim, Nguyễn Văn VỹDương Văn Đức ngay từ đầu[13], nên ông có mặt trong thành phần hội đồng tướng lãnh xét xử khuynh hướng trung lập của các tướng Đôn-Đính-Kim-Xuân sáng ngày 29 tháng 5 năm 1964.[14] Tháng 11 cùng năm, chuyển sang Bộ Quốc phòng, ông được bổ nhiệm làm Giám đốc Nha Động viên. Nhưng vào tháng 4 năm 1965, nhóm tướng trẻ, do các tướng Thiệu-Kỳ-Thi- lãnh đạo, áp lực Quốc trưởng Phan Khắc Sửu và đề nghị cho về hưu tất cả quân nhân cao cấp có hơn 20 năm quân vụ, tính luôn thời gian trong quân đội Pháp [14]. Ngày 1 tháng 5, ông được giải ngũ ở tuổi 53.

Trở về đời sống dân sự[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi nền Đệ nhị Cộng hòa thành lập, ông cùng một số cựu tướng lãnh như Trần Văn Đôn, Thái Quang Hoàng, Nguyễn Văn Chuân, Trần Tử Oai, Mai Hữu Xuân, Tôn Thất Đính, thành lập một tổ chức ái hữu của các cựu tướng lãnh do tướng Trần Văn Đôn làm Chủ tịch, ông giữ chức vụ Tổng thư ký. Với vai trò Tổng thư ký, ông đã có những đóng góp quan trọng trong các cuộc vận động tranh cử của các tướng Trần Văn ĐônTôn Thất Đính vào Thượng nghị viện, cũng như lực lượng thứ 3 do tướng Dương Văn Minh lãnh đạo sau này.

1975[sửa | sửa mã nguồn]

Sau ngày 30 tháng 4, ông ở lại Việt Nam. Do mang bệnh tim rất nặng và đã giải ngũ quá lâu, không còn ảnh hưởng trong quân đội, nên ông là một trong số ít tướng lãnh không phải đi cải tạo. Tuy vậy, ông vẫn bị quản chế tại gia và bị hạn chế trong việc tự do giao tiếp cũng như cư trú cho đến ngày qua đời.

Ngày 27 tháng 1 năm 1988, ông từ trần tại Tp HCM. Hưởng thọ 76 tuổi.

Huy chương[sửa | sửa mã nguồn]

Được tặng thưởng một số Huy chương Quân sự, Dân sự Việt Nam và Đồng minh.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thân phụ: Cụ Lê Văn Oai
  • Thân mẫu: Cụ Trần Thị Cháu.
  • Người vợ đầu của tướng Nghiêm là bà Trần Thị Thuận, sau khi sinh hạ được 2 người con trai thì qua đời. Ông tục huyền với bà Trần Thị Kim Anh, sinh hạ được 8 người con nữa gồm 5 trai, 3 gái.
  • Trưởng nam: Ông Lê Văn Trang (Sinh năm 1937 tại Thừa Thiên, tốt nghiệp khóa 14 Võ bị Đà Lạt. Sau cùng biệt phái sang Bộ Nội vụ giữ chức vụ: Trung tá Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy Cảnh sát Quốc gia tỉnh Bình Thuận).
  • Thứ nam: Ông Lê Văn Châu (Sinh năm 1938 tại Thừa Thiên, tốt nghiệt Đại học Quân y Sài Gòn. Sau cùng là Thiếu tá, chức vụ Y sĩ trưởng của một Lữ đoàn Nhảy dù).

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Bảo quốc Huân chương đệ tam đẳng.
  2. ^ Giám đốc Nha Động viên (sau là Tổng Nha Nhân lực) thuộc Bộ Quốc phòng
  3. ^ Huân chương Chính phủ Pháp tặng thưởng cho tướng Nghiêm sau Thế chiến 2, khi ông còn là một sĩ quan cấp Thiếu úy:
    -Order de la Légion d'honneur, còn gọi là: Le Musée de Légion de d'Honneur (Huy chương Bắc Đẩu hoặc Huy chương Vinh dự cấp Quân đoàn)
    -Croix De Guerre (Huy chương Anh Dũng Thập Tự)
    -Médaille De la Resistance (Huy chương Bảo vệ nước Pháp).
  4. ^ Đầu tháng 8 năm 1955, Sư đoàn này đổi phiên hiệu thành đơn vị Dã chiến, hai tháng sau đổi thành Sư đoàn Dã chiến số 1. Sau cùng trở thành Sư đoàn 1 Bộ binh.
  5. ^ Hà Thúc Ký -Sống còn với dân tộc, 2009
  6. ^ Nguyễn Văn Canh -Đọc hồi ký của Hà Thúc Ký, 2009
  7. ^ Nguyễn Đức Cung -Thử nhìn lại biến cố Ba Lòng của Đại Việt, 2011
  8. ^ Rufus Phillips -Counterinsurgency in Vietnam: Lessons for Today, American Foreign Service Association 2008.
  9. ^ B.G. James Lawton Collins, Jr,-The development and training of the South Vietnamese Army 1950-1972, Vietnam Studies 1975.
  10. ^ FRUS, 1961-1963, Vol. IV; tài liệu 250; Báo cáo ngày 31/10/1963; US-Vietnam Relations, 1945-1967, Bk 11, tr. 503-504.
  11. ^ Dẫn theo Margaret K. Gnoinska, Poland and Vietnam, 1963: New Evidence on Secret Communist Diplomacy and the "Maneli Affair". Working Paper No 45, 2005.
  12. ^ FRUS, 1961-1963, Vol. IV; tài liệu 287; Báo cáo ngày 04/11/1963; US-Vietnam Relations, 1945-1967, Bk 11, tr. 552-554.
  13. ^ FRUS, 1964-1968, Vol. I; tài liệu 18; Báo cáo ngày 28/01/1964; US-Vietnam Relations, tr. 36-37.
  14. ^ a ă Dẫn theo Trần Văn Đôn, Việt Nam nhân chứng. Xuân Thu, Hoa Kỳ, 1989.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.