Lý Đức Quân

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
LÝ ĐỨC QUÂN
Tiểu sử
Sinh Tháng 3 năm 1930
Hải Ninh, Việt Nam
Mất 25 tháng 5 năm 1973 (43 tuổi)
Bình Dương, Việt Nam
Binh nghiệp
Phục vụ Flag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
Thuộc Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Năm tại ngũ 1952-1973
Cấp bậc US-O7 insignia.svg Chuẩn tướng
Đơn vị ARVN 5th Division SSI.svg Sư đoàn 5 Bộ binh
Chỉ huy Flag of the Vietnamese National Army.svg Quân đội Quốc gia
Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Tham chiến Chiến tranh Việt Nam
Khen thưởng B.quốc H.chương đệ III[1]

Lý Đức Quân (1930-1973), nguyên là một sĩ quan Bộ binh cao cấp của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Đại tá. Ông xuất thân từ những khóa đầu tiên ở trường Võ bị Quốc gia do Chính phủ Quốc gia Việt Nam mở ra tại Huế, sau đó dời về Nam Cao nguyên Trung phần kết hợp với trường Võ bị Liên quân của Quân đội Pháp để lại, nhằm mục đích đào tạo sĩ quan người Việt phục vụ cho Quân đội Liên hiệp Pháp. Sau khi ra trường ông đã đảm nhiệm từ chức vụ Trung đội trưởng cho đến chỉ huy cấp Trung đoàn. Năm 1973 ông tử trận, được truy thăng cấp Chuẩn tướng.

Tiểu sử & Binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh vào tháng 2 năm 1930 trong một gia đình có nguồn gốc dân tộc Nùng[2] thiểu số tại Hải Ninh (nay là địa giới Thành phố Móng Cái, thuộc tỉnh Quảng Ninh). Năm 1950, ông tốt nghiệp Trung học chương trình Pháp tại Hải Phòng với văn bằng Tú tài bán phần (Part I).

Quân đội Quốc gia Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Giữa năm 1952, thi hành lệnh động viên, ông nhập ngũ vào Quân đội Quốc gia, thành phần trong Quân đội Liên hiệp Pháp, mang số quân: 50/300.430. Theo học khóa 8 Hoàng Thụy Đông tại trường Võ bị Liên quân Đà Lạt, khai giảng ngày 1 tháng 7 năm 1952. Ngày 28 tháng 6 năm 1953 mãn khóa tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy hiện dịch.[3] Ra trường ông được chọn về đơn vị Bộ binh, Tiểu đoàn Khinh quân Việt Nam với chức vụ Trung đội trưởng.

Quân đội Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối năm 1955, sau khi Quân đội Quốc gia đổi tên thành Quân đội Việt Nam Cộng hòa. Chuyển sang phục vụ cơ cấu mới ông được thăng cấp Trung úy giữ chức vụ Đại đội trưởng. Đầu năm 1961, ông được thăng cấp Đại úy được cử giữ chức vụ Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Bộ binh.

Ngày Quốc khánh Đệ nhị Cộng hòa 1 tháng 11 năm 1965, ông được thăng cấp Thiếu tá và được chỉ định làm Trung đoàn phó Trung đoàn 7 thuộc Sư đoàn 5 Bộ binh.

Ngày Quân lực 19 tháng 6 năm 1969, ông được thăng cấp Trung tá chuyển về Bộ tư lệnh Sư đoàn 5 giữ chức vụ Tham mưu phó kiêm Chiến tranh Chính trị, một năm sau ông được cử làm Tham mưu trưởng Sư đoàn.

Ngày Quốc khánh 1 tháng 11 năm 1972, ông được thăng cấp Đại tá, trở lại đơn vị tác chiến giữ chức vụ Trung đoàn trưởng Trung đoàn 7 Bộ binh thuộc Sư đoàn 5.

Tử trận[sửa | sửa mã nguồn]

Chiều ngày 25 tháng 5 năm 1973, ông bị trúng đạn phòng không của địch quân khi đang bay trên trực thăng, điều động binh sĩ thuộc quyền phối hợp với đơn vị Biệt động quân để tái chiếm Rạch Bắp, phía tây Quận lỵ Bến Cát, Bình Dương. Ông tử trận, hưởng dương 43 tuổi.

Ông được truy thăng cấp bậc Chuẩn tướng và truy tặng Đệ Tam đẳng Bảo quốc Huân chương kèm Anh dũng Bội tinh với nhành Dương liễu.

Tang lễ được cử hành trọng thể theo lễ nghi Quân cách của một tướng lĩnh. An táng tại Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Bảo quốc Huân chương đệ tam đẳng (truy tặng).
  2. ^ Trong hàng sĩ quan cao cấp của Quân lực VNCH có một số vị thuộc dân tộc Nùng:
    -Cấp Chuẩn tướng:
    -Chương Dzềnh Quay
    -Lý Đức Quân
    -Cấp Đại tá:
    -Vòng A Sáng (Sinh năm 1907 tại Hải Ninh, tốt nghiệp Võ bị Lục quân Pháp. Nguyên Tư lệnh Sư đoàn 3 Sơn cước (tiền thân của Sư đoàn 5 Bộ binh sau này). Giải ngũ năm 1960.
    -Hoàng Gia Cầu (Sinh năm 1929 tại Hải Ninh (trưởng nam của Đại tá Vòng A Sáng), tốt nghiệp Võ bị Địa phương Móng Cái. Chức vụ sau cùng: Tham mưu trưởng Nha Tổng Thanh tra Quân lực).
    -Trương Thắng Chức (Sinh năm 1928 tại Hải Ninh. Tốt nghiệp Võ bị Địa phương Móng cái. Chức vụ sau cùng: Tư lệnh phó Sư đoàn 25 Bộ binh).
    -Dương Phún Sáng (Sinh năm 1926 tại Hải Ninh, tốt nghiệp khóa 3 Võ bị Đà Lạt. Chức vụ sau cùng: Chánh Thanh tra Sư đoàn 18 Bộ binh).
    -Slíu Tsồi Coóng (Sinh năm 1930 tại Hải Ninh, tốt nghiệp trường Hạ sĩ quan Pháp. Chức vụ sau cùng: phó Phòng Hành quân Bộ Tổng Tham mưu).
  3. ^ Tốt nghiệp khóa 8 Hoàng Thụy Đông, sau này lên tướng còn có:
    -Thiếu tướng Phạm Văn Phú (Sinh năm 1928 tại Hà Đông, Chức vụ sau cùng: Tư lệnh Quân đoàn II và Quân khu 2)
    -Chuẩn tướng Huỳnh Thới Tây (Sinh năm 1932 tại Long An. Chức vụ sau cùng: Phụ tá Tư lệnh Cảnh sát Quốc gia)

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.