Lý Hổ
| Lý Hổ | |
|---|---|
| Lũng Tây công | |
| Tên chữ | Văn Bân |
| Thụy hiệu | Tương |
| Miếu hiệu | Thái Tổ |
| Lũng Tây quận công | |
| Nhiệm kỳ 549—551 | |
| Tiền nhiệm | đầu tiên |
| Kế nhiệm | Lý Bính |
| Thông tin cá nhân | |
| Sinh | |
Nơi sinh | Vũ Xuyên |
| Mất | |
Thụy hiệu | Tương |
Ngày mất | 551 |
| An nghỉ | |
Miếu hiệu | Thái Tổ |
Nơi an táng | Tam Nguyên |
| Giới tính | nam |
| Gia quyến | |
Thân phụ | Lý Thiên Tứ |
Thân mẫu | Quang Ý hoàng hậu |
Phối ngẫu | Cảnh Liệt hoàng hậu |
Hậu duệ | Lý Bính, Lý Diên Bá, Lý Chân, Lý Chương, Lý Hội, Lý Y, Lý Úy, Lý Lượng, Lý Cương |
| Tước hiệu | Triệu quận công Lũng Tây công |
| Gia tộc | Hoàng tộc Lý Đường |
| Nghề nghiệp | chính khách, quân nhân |
| Quốc tịch | Bắc Ngụy, Tây Ngụy |
Đường Thái Tổ (chữ Hán: 李虎, ? – 551), tự Uy Mãnh [1] người trấn Vũ Xuyên, Đại Bắc,[2] tướng lĩnh, khai quốc công thần, một trong "Bát Trụ Quốc" nhà Tây Ngụy. Thời Tây Ngụy, ông được ban họ Tiên Ti là "Đại Dã", đến thời Bắc Chu, Dương Kiên lên làm thừa tướng mới bỏ đi. Lý Hổ được cháu nội là Đường Cao Tổ Lý Uyên tôn làm Hoàng đế, miếu hiệu là Thái Tổ, thụy hiệu là Cảnh Đế.
Thân thế
[sửa | sửa mã nguồn]Nhà Đường nhận mình là hậu duệ Cao Dương thị,[3] con cháu của quốc chủ nước Tây Lương thời Thập lục quốc, tức là sĩ tộc họ Lý ở Thành Kỷ, Lũng Tây [4] hay Địch Đạo, Lũng Tây.[5]
Theo Cựu – Tân Đường thư, quốc chủ đời thứ hai của Tây Lương là Lý Hâm sinh ra Trùng Nhĩ. Tây Lương bị Bắc Lương diệt, Trùng Nhĩ chạy đến Giang Nam, làm Nhữ Nam thái thú nhà Lưu Tống; sau đó quay về Bắc Ngụy, được bái làm Hoằng Nông thái thú, tặng Dự Châu thứ sử. Trùng Nhĩ sinh ra Hi, ban đầu làm Kim Môn trấn tướng, sau đó dời đến Vũ Xuyên. Hi sinh ra Thiên Tích, làm Trường chủ, trong những năm Đại Thống nhà Tây Ngụy được truy tặng Tư không. Thiên Tích sinh ra Hổ.
Sự nghiệp
[sửa | sửa mã nguồn]Hổ từ nhỏ phong lưu lỗi lạc, chí hướng cao xa; thích đọc sách nhưng không trau dồi câu chữ, giỏi cưỡi ngựa bắn cung; khinh tài trọng nghĩa, kết giao rộng rãi, rất được Hạ Bạt Nhạc xem trọng.
Theo Nhạc chinh thảo Nguyên Hạo, nhờ công được thăng Ninh sóc tướng quân, Truân kỵ hiệu úy. Ông ở lại trấn thủ Lũng Tây, làm Đông Ung Châu thứ sử, sau đó chuyển sang làm Vệ tướng quân. Nhạc trấn thủ Lũng Hữu, lấy Hổ làm Tả sương đại đô đốc, ủy nhiệm Nội ngoại quân sự.
Nhạc bị Hầu Mạc Trần Duyệt sát hại, Hổ đến Kinh Châu khuyên anh Nhạc là Thắng vào Quan Trung thay Nhạc, Thắng không nghe. Nghe tin Vũ Văn Thái khởi binh đánh Duyệt, ông từ Kinh Châu quay về, ở Văn Hương [6] thì bị biệt tướng của Cao Hoan bắt được, giải đến Lạc Dương. Ngụy Hiếu Vũ đế muốn thu lấy Quan Hữu, gặp Hổ rất mừng, bái làm Vệ tướng quân, ban cho vàng lụa, để ông quay về Quan Trung. Khi Cao Hoan tiến vào Lạc Dương, Hổ đưa quân đón được đế ở Đồng Quan, nhờ công được bái làm Kiêu kỵ tướng quân, gia Nghi đồng tam tư.
Lý Hổ soái quân đánh Linh Châu thứ sử Tào Nê, chiêu dụ người Phá Dã Đầu ở Tắc Hạ, rồi trưng dụng bọn họ. 4 tuần thì hạ được thành, bắt được Nê. Bình xong Linh Châu, bộ lạc A Chí La theo lối riêng cắt đứt đường về, ông soái binh tinh nhuệ tập kích, bắt hết bọn họ. Tiến phong Trường An huyện hầu, thực ấp 500 hộ. Hổ xin nhường con của anh là Khang Sinh, Vũ Văn Thái cho. Sau đó, ông theo Thái đại phá Cao Hoan ở Sa Uyển.
Lương Xí Định khởi nghĩa ở Hà Châu, Hổ kiêm chức Thượng thư tả bộc xạ, làm Lũng Hữu hành đài, tổng lĩnh quân đội đi đánh. Ông phát hiện bộ tướng Ô Quân Trường Mệnh ngầm liên kết với nghĩa quân, bắt chém làm hiệu lệnh, nghĩa quân nghe tin bỏ trốn đến Hà Bắc. Lý Hổ đưa quân vượt sông, Xí Định ra hàng, bắt được mấy vạn nam nữ, bổ sung cho vùng Tam Phụ. Tiến vị Khai phủ nghi đồng tam tư, còn lại như cũ.
Bọn lính ở Nam Kì Châu là Dương Bồn Sinh, Mã Tăng làm phản, liên kết với quân nhà Lương ở Hán Trung. Lý Hổ trên đường về nhân đó tiến đánh nghĩa quân, sai sứ chiêu dụ. Bồn Sinh trá hàng, ông biết vậy, vờ ra lệnh cho tướng sĩ nghỉ ngơi. Bồn Sinh biết tin rất mừng, thả cho quân đội ra ngoài thành tìm lương thực. Lý Hổ đưa quân ập đến khi trời còn mờ sáng, lệnh cho tráng sĩ theo cửa ngách mà vào, người trong thành không ai dám chống lại. Quân lệnh nghiêm túc, không xâm phạm đến ai, lưu quân trấn thủ rồi bắt Bồn Sinh mà về. Vũ Văn Thái thán phục, sai sứ úy lạo, ban chức Kì Châu thứ sử.
Mạc Chiết Hậu Sí cướp Tần Châu, Lý Hổ thảo phạt, quân vừa đến thì nghĩa quân đã hàng, thu lấy mấy ngàn binh sĩ đem về.
Mẹ mất, khi táng được đặc cấp Kinh xa, có chiếu cho lấy đất bên mộ để xây mả.
Sau đó dời sang làm Triệu quận công, Vị, Tần 2 Châu thứ sử. Lại dẹp loạn Hồ Bình Chi, dời phong Lũng Tây công. Tiến bái Thái úy, rồi dời sang làm Hữu quân đại đô đốc, Trụ Quốc Đại tướng quân, Thiếu sư.
Nhà Chu thay ngôi, xét công tá mệnh, truy phong Đường quốc công, thụy là Tương.
Dật sự
[sửa | sửa mã nguồn]Lý Hổ thường theo Vũ Văn Thái duyệt quân đội ở dưới Bắc Sơn, gặp báo tấn công, không ai dám cứu giá. Hổ tay không bắt báo mà giết đi, Thái rất mừng, nói: "Tên ngài là Hổ, quả không sai vậy!"
Ban đầu người Trung Quốc gọi thùng chứa phân là "hổ tử". Đến đời Đường, vì kỵ húy Đường Thái Tổ, nên đổi thành "mã tử", đến ngày nay thì gọi là "mã dũng", còn gọi là tiện dũng, phẩn dũng, cung dũng...
Gia quyến
[sửa | sửa mã nguồn]Cha mẹ
[sửa | sửa mã nguồn]- Cha: Lý Thiên Tích (李天錫), tặng Quang Hoàng đế (光皇帝), miếu hiệu Ý Tổ (懿祖).
- Mẹ: Giả thị (贾氏), tặng Quang Ý Hoàng hậu (光懿皇后).
Anh em
[sửa | sửa mã nguồn]- Lý Khởi Đầu (李起头), tặng Trường An hầu (長安侯). Con trai là Lý Đạt Ma (李達摩) thụ tước Trường An Huyện bá (長安縣伯).
- Lý Khất Đậu (李乞豆), giữ chức Thái thú Định Châu.
Thê thiếp
[sửa | sửa mã nguồn]- Chính thất Lương thị (梁氏), có trường hợp cho là Bạt Liệt thị (拔列氏),[2] tặng Cảnh Liệt Hoàng hậu (景烈皇后).
- Kế thất Sất La thị (叱罗氏), tặng Lũng Tây công Phu nhân (陇西公夫人).
Con cái
[sửa | sửa mã nguồn]Con trai
[sửa | sửa mã nguồn]- Nam Dương công Lý Diên Bá (李延伯), mất sớm, không con.
- Tiếu vương Lý Chân (李真), tử trận trên chiến trường.
- Thế Tổ Nguyên Hoàng đế Lý Bính, cha của Đường Cao Tổ.
- Tất vương Lý Chương (李璋, ? - 580), nhậm Lương Châu Thứ sử, âm mưu ám sát Tùy Văn Đế Dương Kiên thất bại nên bị giết. Con trai là Đông Bình vương Lý Thiều (李韶) và Tả vệ tướng quân Lý Hiếu Cơ (李孝基).
- Ung vương Lý Hội (李绘), lấy Hà Nam Đậu thị (河南窦氏) - con gái Trần quốc công Đậu Vinh Định (窦荣定) và Thành An quận Trưởng công chúa (成安郡长公主) - chị gái Tùy Văn Đế. Con trai là Nam quận vương Lý Chí (李贽).
- Tuân vương Lý Y (李祎), nhậm Thượng nghi đồng tam tư thời Tùy. Con trai là Trần Bình Quận vương Lý Thúc Lương (李叔良, ? - 621), hậu duệ gồm họa gia Lý Tư Huân (李思訓) và thừa tướng Lý Lâm Phủ.
- Thái Liệt vương Lý Úy (李蔚), thời Bắc Chu nhậm Yến Châu, Hằng Châu Thứ sử cùng tước Tương Vũ Huyện công (襄武县公). Hậu duệ nổi bật có danh tướng Lý Hiếu Cung.
- Trịnh Hiếu vương Lý Lượng (李亮), hậu duệ nổi bật có thư pháp gia Lý Hạ.
Con gái
[sửa | sửa mã nguồn]- Trưởng nữ, Lý phi của Bắc Chu Vũ Đế Vũ Văn Ung.
- Nhị nữ, phong Tín Đô quận Đại Trưởng Công chúa (信都郡大长公主), lấy Trương Cao (张暠), con trai Vũ Uy quận công Trương Nghị (张谊). Con trai là Hà Bắc quận công Trương Biện (张辩) lấy Hà Nam Đậu thị (河南窦氏) - ngoại tôn nữ của Tùy Văn Đế, sinh Ý công Trương Tông (张琮) lấy em gái Trưởng Tôn Hoàng hậu.
- Tam nữ, phong Thượng Dung Quận quân (上庸郡君), lấy Đô Xương Huyện tử Lục Lượng (陆亮).