Lý Hiền (Nhà Đường)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Lý Hiền (nhà Đường))
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Lý Hiền
李賢
Hoàng tử nhà Đường
Figures in a cortege, tomb of Li Xian, Tang Dynasty.jpg
Thái tử Đại Đường
Tại vị676 - 681
Tiền nhiệmLý Hoằng
Kế nhiệmLý Hiển
Thông tin chung
Thê thiếpTĩnh phi Phòng thị
Lương đệ Trương thị
Hậu duệXem văn bản
Thụy hiệuChương Hoài Thái tử
(章懷太子)
Thân phụĐường Cao Tông
Thân mẫuVõ Tắc Thiên
Sinh(655-01-29)29 tháng 1, 655
Kinh Triệu, Trường An
Mất13 tháng 3, 684(684-03-13) (29 tuổi)
Ba Châu, nay là Châu tự trị Mông Cổ Bayingolin
An táng705
Chương Hoài Thái tử mộ (章怀太子墓), Càn lăng

Lý Hiền (chữ Hán: 李賢, 29 tháng 1, 655 - 13 tháng 3, 684), biểu tự Minh Doãn (明允), có thuyết tự Nhân (仁), được biết đến với thụy hiệu Chương Hoài Thái tử (章懷太子), là con trai thứ sáu của Đường Cao Tông, vị Hoàng đế thứ ba của nhà Đường trong lịch sử Trung Quốc.

Trong lịch sử Trung Quốc, Lý Hiền nổi danh như một Hoàng thái tử khổ mệnh. Ông là con của cả hai người từng là Hoàng đế, lại là anh của Thái Bình công chúa quyền khuynh triều dã. Tuy tài năng, song Lý Hiền lại rơi vào kết cuộc thê lương, nguyên nhân thật sự khiến ông mất lòng Võ Tắc Thiên, bị phế truất triệt để như vậy đến bây giờ vẫn còn là bí ẩn.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Khi Đường Cao Tông cùng Võ Tắc Thiên đến Chiêu lăng tế bái Đường Thái Tông, khoảng năm Vĩnh Huy thứ 5 (654), ngày 17 tháng 12 (âm lịch), mùa đông, Lý Hiền được sinh ra trên lộ trình[1].

Theo Cựu Đường thưTân Đường thư, Lý Hiền là do Võ hậu sinh ra, lúc bấy giờ bà vẫn còn là Chiêu nghi, chưa trở thành Hoàng hậu. Tuy nhiên, theo điển tích dân gian và Tư trị thông giám, thì mẹ ruột của ông là Hàn Quốc phu nhân Võ Thuận, chị ruột của Võ hậu. Khi Võ hậu đắc sủng, Hàn Quốc phu nhân thường ra vào cung, nhân đó dụng kế gần gũi với Đường Cao Tông mà sinh ra ông. Sau đó Võ hậu nhận ông, nuôi làm con mình.

Năm Vĩnh Huy thứ 6 (655), ông được phong Lộ vương (潞王). Năm Hiển Khánh nguyên niên (656), Thái tử Lý Trung bị phế truất, con trưởng của Võ hậu là Lý Hoằng kế vị Thái tử, Lộ vương Lý Hiền lại kiêm thêm Thứ sử Kỳ Châu, Ung Châu Châu mục, Đô đốc U Châu, lúc chỉ 2 tuổi.

Khi còn nhỏ, Lý Hiền tinh thông cổ kim, chăm chỉ đọc sách, là một người rất thông minh và quyết đoán, từng được Cao Tông ở trước mặt Lý Thế Tích tán thưởng không ngừng vì tuổi trẻ tài cao, nói:"Đứa nhỏ này đã đọc Thượng thư, Lễ ký, Luận ngữ, ngâm nga thơ cổ phú mười mấy thiên, vừa thấy là có thể lĩnh hội, cũng sẽ không quên. Ta từng kêu nó đọc 《Luận ngữ》, nó đọc được ‘hiền hiền dịch sắc’ 贤贤易色, luôn mãi đọc. Trẫm hỏi vì cái gì mà lặp lại câu đó mãi thế, nó nói chính mình đặc biệt yêu thích những lời này, thế mới biết đứa nhỏ này thông minh xuất từ thiên tính"[2][3].

Năm Long Sóc nguyên niên (661), khi được 7 tuổi, được đổi làm Phái vương (沛王), kiêm Đô đốc Dương châu[4]. Năm Long Sóc thứ 2 (662), kiêm Đại đô đốc Dương Châu. Năm đầu Càn Phong (666), khi 11 tuổi, lại tiến phong làm Tả Vũ vệ Đại tướng quân (左武衛大將軍), Ung châu mục. Cũng trong năm đó, Lý Hiền chiêu mộ một trong Đường sơ Tứ kiệtVương Bột làm "Vương phủ Tu soạn" (王府修撰), thập phần coi trọng. Hai năm sau, Lý Hiền cùng với em trai là Anh Vương Lý Hiển chơi đá gà, Vương Bột trợ hứng mà viết 《Hịch Anh vương kê - 檄英王鸡》. Đường Cao Tông biết được sau giận dữ, cho rằng Vương Bột này sẽ châm ngòi khiến 2 vương tranh chấp, nên trục xuất Vương Bột khỏi vương phủ.

Năm Hàm Hanh thứ 3 (672), khi 18 tuổi, lại đổi làm Ung vương (雍王), Đại đô đốc Lương Châu, Ung Châu mục, lại kiêm Hữu Vệ đại tướng quân (右衛大將軍), cải tên thành Lý Đức (李德), hai năm sau trở về tên cũ Lý Hiền[5].

Thái tử Đại Đường[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Thượng Nguyên thứ 2 (675), anh trai Lý Hiền là Thái tử Lý Hoằng qua đời ở Hợp Bích cung. Tháng 6 cùng năm, ông được lập làm Hoàng thái tử[6].

Không lâu sau khi sắc phong làm Thái tử, Đường Cao Tông mắc bệnh, Lý Hiền nhận lệnh làm giám quốc, giải quyết việc triều chính một cách minh bạch, công bằng, rất được trong ngoài triều thần tán dương[7]. Ông lại thường kết giao với bọn học sĩ, có các trước tác như "Liệt phiên chánh luận" (列藩正論), "Xuân cung yếu lược" (春宮要錄), "Tu thân yếu lãm" (修身要覽); lại cho sửa chú Hậu Hán thư của Phạm Diệp dâng lên Cao Tông, rất được khen ngợi[8].

Năm Nghi Phượng nguyên niên (676), Đường Cao Tông viết chiếu thư, trực tiếp khen ngợi Thái tử Lý Hiền:“Hoàng thái tử giữ việc Lưu thủ Giám quốc tới nay không lâu sau, nhưng lưu tâm chính vụ, coi sóc bá tánh, phi thường tận tâm, đối với hình pháp cũng thẩm tra tường tận minh sát. Thêm việc chính vụ rất nhiều, có thể chuyên tâm tinh nghiên thánh nhân kinh điển, lĩnh hội thâm ý. Tiên vương sở tàng thư sách đều có thể nghiên cứu và thảo luận tinh hoa. Hảo thiện chính trực, là quốc gia hy vọng, không phụ lòng trẫm. Mệnh ban thưởng lụa gấm 500 đoạn”[9].

Khi làm Thái tử, Lý Hiền có nhiều công lao như thế, tuy nhiên ông lại cùng mẫu hậu là Võ hoàng hậu quan hệ không được tốt đẹp. Lúc ấy, đạo sĩ Minh Sùng Nghiễm (明崇儼) được Võ hậu coi trọng, thường nói với Võ hậu:"Thái tử không thể thừa kế được, Anh vương (Lý Hiển) có dung mạo giống Thái Tông, Tương vương (Lý Đán) về sau sẽ đại quý"[10].

Lý Hiền nghe hắn nói những lời này, lập tức sinh chán ghét, mà khi đó trong cung lại lưu truyền thuyết rằng Lý Hiền là do Hàn Quốc phu nhân sinh ra, nên tâm của Lý Hiền rất dao động, sợ hãi. Ngay lúc này, Võ hậu cũng cho soạn "Thiếu Dương chánh phạm" (少陽政範) và "Hiếu tử truyện" (孝子傳) ban cho Lý Hiền, khiến ông rất bất an[11].

Bị phế và qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Nghi Phượng thứ 4 (679), Minh Sùng Nghiễm bị cường đạo giết, rồi lại chậm chạp bắt không được hung thủ, bởi vậy Võ hậu nghi ngờ là do Lý Hiền làm.

Năm Điều Lộ thứ 2 (680), có người tố giác trong chuồng ngựa ở Đông cung phát hiện hàng trăm kiện áo giáp, Võ hậu liền sai Tiết Nguyên Siêu, Bùi Viêm, Cao Trí Chu điều tra việc này. Đường Cao Tông thương Lý Hiền, không muốn trị tội. Võ hậu nói:"Là con dân mà mưu nghịch, thiên địa bất dung; nay đại nghĩa diệt thân, có thể nào xá được?". Do vậy, Lý Hiền liền bị phế làm thứ dân, giam lỏng tại Trường An[12]. Tháng 10 năm sau (681), Đường Cao Tông ra lệnh phế Lý Hiền làm thứ nhân, hơn 10 viên đại thần bị liên lụy vào vụ án[13]. Theo Tư trị thông giám, sự việc này được kể như sau: Lý Hiền bình thường dung mạo rất đẹp, rất sủng ái nam sủng là Triệu Đạo Sinh (赵道生), quan viên ở Đông Cung là Vi Thừa Khánh (韦承庆) khuyên can lại không nghe. Khi sự việc Thái tử phát ra, Triệu Đạo Sinh lại khai rằng Thái tử sai mình giết Minh Sùng Nghiễm[14][15]. Tuy nhiên, theo Cựu Đường thư, ghi lại, Vi Thừa Khánh từng hiến 《Dụ Thiện châm》, khuyên can Thái tử thân hiền năng mà xa tiểu nhân, Thái tử nghe xong: “Thiện chi, ban vật thật hậu”, không chỉ có tán thành gián ngôn, còn ban thưởng Vi Thừa Khánh[16]. Không lâu sau, Đường Cao Tông lập con trai thứ 7 của mình là Lý Triết do Thiên Hậu sinh ra làm Thái tử, đổi tên ông ta là Lý Hiển[17].

Năm Vĩnh Thuần thứ 2 (683), thứ dân Lý Hiền bị đày đến nơi hẻo lánh Ba Châu (巴州; nay là Châu tự trị Mông Cổ Bayingolin)[18]. Lúc đi, con cái nô bộc đều quần áo rách rưới thê lương, Tân Thái tử Lý Hiển vì thương anh, cầu xin Đế-Hậu cảm thương anh cả mà ban cho quần áo mùa đông, vì thế toàn gia Phế Thái tử mới bảo toàn mạng sống[19].

Năm Văn Minh nguyên niên (684), Đường Cao Tông băng hà, Võ hậu trở thành Hoàng thái hậu, Thái tử Lý Hiển kế vị, tức Đường Trung Tông. Tuy nhiên chỉ một tháng sau, Trung Tông bị Võ Thái hậu phế bỏ, lập Lý Đán, tức Đường Duệ Tông, Võ Thái hậu nắm đại quyền. Ngày 22 tháng 2 (âm lịch), Võ Thái hậu liền sai Kim Ngô vệ Đại tướng quân Khâu Thần Tích đến Ba Thục, bức Lý Hiền phải uống rượu độc tự tử, năm đó 29 tuổi[20][21][22]. Võ Thái hậu được tin giả vờ thương xót, an táng cho ông ở cửa Hiển Phước theo nghi lễ của tước Vương, rồi biếm Khâu Thần Tích làm Thứ sử Điệp châu, tuy nhiên sau đó lại dùng trở lại[23].

Năm Thùy Củng nguyên niên (685), Võ Tắc Thiên chiếu lệnh khôi phục tước vị của Lý Hiền, tức Ung vương[24].

Năm Thần Long nguyên niên (705), Đường Trung Tông phục vị, truy tặng Lý Hiền chức Tư đồ, rước linh cữu về an táng tại Càn lăng. Năm Cảnh Vân thứ 2 (711), Đường Duệ Tông truy phong cho ông thụy hiệu là Chương Hoài Thái tử (章懷太子), hợp táng cùng với vợ là Phòng thị, được gọi là Chương Hoài Thái tử mộ (章怀太子墓)[25][26].

Gia quyến[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thê thiếp:
  1. Chương Hoài Thái tử Tĩnh phi Phòng thị (章怀太子靖妃房氏; 658 - 711), người Thanh Hà, Bối Châu, xuất thân từ Thanh Hà Phòng thị (清河房氏), con gái Phòng Tiên Trung (房先忠), cháu nội của Phòng Nhân Dụ (房仁裕), là tộc thúc của đại thần Phòng Huyền Linh. Cuộc đời có ghi lại ở Đường Lũng Tây Lý thị Thanh Hà Thái phu nhân chi bia (唐陇西李氏清河太夫人之碑), Tặng Binh bộ Thượng thư Phòng Trung Công thần đạo bi tịnh tự (赠兵部尚书房忠公神道碑并序) cùng Chương Hoài Thái tử Tĩnh phi vãn từ (章怀太子靖妃挽辞).
  2. Lương Đệ Trương thị (良娣張氏), xuất thân từ Nam Dương Trương thị (南陽張氏) ở Nam Dương, cung nữ xuất thân, hầu ở tiềm để. Khi Lý Hiền bị biếm Ba Châu, cùng đi theo. Sau trở về Trường An, nhưng vẫn bị quản thúc. Lúc Lý Đán phong Tương vương, cả nhà mới có thể ra ngoài. Lúc này Phòng phi cùng Lý Thủ Lễ ở trong phường Hưng Hóa ở Tây thành, còn Trương thị ở trong phường Duyên Khang, phía tây của Hưng Hóa[27]. Có Chương Hoài Thái tử Lương đệ Trương thị thần đạo bi (章怀太子良娣张氏神道碑) ghi lại.
  • Hậu duệ:
  1. Lý Quang Thuận [李光顺; ? - 692], trong năm Thiên Thụ (690 - 692) thời Võ Tắc Thiên được phong Lạc An vương (乐安王), bị giết hại, không có con nối. Những năm Tiên Thiên thời Đường Huyền Tông cải truy tặng làm Cử vương (莒王). Lý Quang Thuận là trưởng tôn của Võ Tắc Thiên, sách sử không có ghi lại nguyên nhân bị tru sát, nhưng thời gian này là lúc Võ Tắc Thiên sử dụng nhiều gian đảng, rất có thể Lý Quang Thuận chết cũng tương tự như Đích trưởng tôn khác của Võ Tắc Thiên là Lý Trọng Nhuận, con đích trưởng của Đường Trung Tông.
  2. Lý Thủ Lễ [李守礼; 672 - 741], bổn danh Quang Nhân (光仁), thụ Thái tử Tiển mã, nhận tập tước Tự Ung vương (嗣雍王), sau phong Bân vương (邠王). Thời trẻ tùy cha lưu đày, sau khi Lý Hiền chết thì cùng các con của Đường Duệ Tông Lý Đán cùng bị giam cầm trong cung. Khi mất cũng chôn ở Càn lăng.
  3. Lý Thủ Nghĩa [李守义], trong năm Văn Minh thụ phong Kiền Vị quận vương (犍为郡王), sau cải phong Vĩnh An quận vương (永安郡王), chết bệnh, vô hậu tự[28]. Thời Đường Huyền Tông, truy tặng Tất vương (毕王).
  4. Trường Tín quận chúa (长信郡主): khi Lý Hiền bị phế thì hàng vi Huyện chúa. Những năm Thiên Thụ thứ 2 (691), tổ mẫu Võ Tắc Thiên giam cùng các anh em ruột và các con của Đường Duệ Tông trong cung, hơn 10 năm không được ra.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 《旧唐书 高宗本纪》:永徽五年十二月戊午,发京师谒昭陵,在路生皇子贤。
  2. ^ 《新唐书 章怀太子传》:章怀太子贤,字明允。容止端重,少为帝爱。甫数岁,读书一览辄不忘,至《论语》"贤贤易色",一再诵之。帝问故,对曰:"性实爱此。"帝语李世勣,称其夙敏。
  3. ^ 《旧唐书章怀太子传》 章怀太子贤,字明允,高宗第六子也。永徽六年,封潞王。显庆元年,迁授岐州刺史。其年,加雍州牧、幽州都督。时始出阁,容止端雅,深为高宗所嗟赏。高宗尝谓司空李勋曰:"此儿已读得《尚书》、《礼记》、《论语》,诵古诗赋复十余篇,暂经领览,遂即不忘。我曾遣读《论语》,至'贤贤易色',遂再三覆诵。我问何为如此,乃言性爱此言。方知夙成聪敏,出自天性。"龙朔元年,徙封沛王,加扬州都督、兼左武卫大将军,雍州牧如故。二年,加扬州大都督。麟德二年,加右卫大将军。咸亨三年,改名德,徙封雍王,授凉州大都督,雍州牧、右卫大将军如故,食实封一千户。上元元年,又依旧名贤。
  4. ^ 《册潞王观为扬州都督仍徙封沛王文》 惟尔雍州牧幽州都督上柱国潞王贤,颖擢元枢,轴荣紫极。是用命尔为沛王使持节都督扬和滁润常宣歙等七州诸军事扬州刺史,左武候大将军牧及勋并如故。
  5. ^ 《新唐书 章怀太子传》:始王潞,历幽州都督、雍州牧。徙王沛,累进扬州大都督、右卫大将军。更名德。徙王雍,仍领雍州牧、凉州大都督,实封千户。上元年,复名贤。
  6. ^ 《资治通鉴第二百零二卷> 六月,戊寅,立雍王贤为皇太子,赦天下。
  7. ^ 《资治通鉴第二百零二卷> 丙戌,命太子监国。太子处事明审,时人称之。
  8. ^ 《新唐书章怀太子传》 是时,皇太子薨,其六月,立贤为皇太子。俄诏监国,贤于处决尤明审,朝廷称焉,帝手敕褒赐。贤又招集诸儒:左庶子张大安、洗马刘讷言、洛州司户参军格希玄、学士许叔牙成玄一史藏诸周宝宁等,共注范晔《后汉书》。书奏,帝优赐段物数万。
  9. ^ 《旧唐书章怀太子传》  上元二上,孝敬皇帝薨。其年六月,立为皇太子,大赦天下,寻令监国。贤处事明审,为时论所称。仪凤元年,手敕褒之曰:"皇太子贤自顷监国,留心政要。抚字之道,既尽于哀矜;刑纲所施,务存于审察。加以听览余暇,专精坟典。往圣遗编,咸窥壶奥;先王策府,备讨菁华。好善载彰,作贞斯在,家国之寄,深副所怀。可赐物五百段。"贤又招集当时学者太子左庶子张大安、洗马刘讷言、洛州司户格希玄、学士许叔牙成玄一史藏诸周宝宁等,注范晔《后汉书》,表上之,赐物三万段,仍以其书付秘阁。
  10. ^ 《新唐书章怀太子传》  时正谏大夫明崇俨以左道为武后所信,崇俨言英王类太宗,而相王贵,贤闻,恶之。宫人或传贤乃后姊韩国夫人所生,贤益疑,而后撰《少阳政范》、《孝子传》赐贤,数以书让勒,愈不安。调露中,天子在东都,崇俨为盗所杀,后疑出贤谋,遣人发太子阴事,诏薛元超、裴炎、高智周杂治之,获甲数百首于东宫。帝素爱贤,薄其罪,后曰:"贤怀逆,大义灭亲,不可赦。"乃废为庶人,焚甲天津桥,贬大安普州刺史,流讷言于振州,坐徙者十余人。开耀元年,徙贤巴州。
  11. ^ 《资治通鉴第二百零二卷> 太子贤闻宫中窃议,以贤为天后姊韩国夫人所生,内自疑惧。明崇俨以厌胜之术为天后所信,常密称“太子不堪承继,英王貌类太宗”,又言“相王相最贵”。天后尝命北门学士撰《少阳正范》及《孝子传》以赐太子,又数作书诮让之,太子愈不自安。
  12. ^ 《资治通鉴第二百零二卷>  及崇俨死,贼不得,天后疑太子所为。太子颇好声色,与户奴赵道生等狎昵,多赐之金帛,司议郎韦承庆 上书谏,不听。天后使人告其事。诏薛元超、裴炎与御史大夫高智周等杂鞫之,于东宫马坊搜得皂甲数百领,以为反具;道生又款称太子使道生杀崇俨。上素爱太子,迟回欲宥之,天后曰:“为人子怀逆谋,天地所不容;大义灭亲,何可赦也!”甲子,废太子贤为庶人,遣右监门中郎将令狐智通等送贤诣京师,幽于别所,党与皆伏诛,仍焚其甲于天津桥南以示士民。
  13. ^ Cựu Đường thư, quyển 86, liệt truyện 36
  14. ^ 《资治通鉴 高宗本纪》:太子颇好声色,与户奴赵道生等狎昵,多赐之金帛,司议郎韦承庆上书谏,不听。
  15. ^ 《资治通鉴 高宗本纪》:道生又款称太子使道生杀崇俨。
  16. ^ 《旧唐书》:又尝为《谕善箴》以献太子。太子善之,赐物甚厚。
  17. ^ Tân Đường thư, quyển 4, Bản kỉ 4
  18. ^ 《大唐故章怀太子并妃清河房氏墓志铭》:以永淳二年,奉敕徙于巴州安置,
  19. ^ 《请给庶人衣服表》:“臣哲言:臣闻 心有所至,谅在于闻天。事或可矜,必先于叫帝。庶人不道,徙窜巴州。臣以兄弟之情,有怀伤悯。昨者临发之日,辄遣使看。见其缘身衣服,微多故弊。男女下从,亦稍单薄。有至于是,虽自取之。在于臣心,能无愤怆。天皇衣被天下,子育苍生。特乞流此圣恩,霈然垂许。其庶人男女下从等,每年所司,春冬两季,听给时服。则浸润之泽,曲沾于蝼蚁。生长之仁,不遗于萧艾。无任私恳之至。谨遣某官奉表陈请以闻。”
  20. ^ 《大唐故章怀太子并妃清河房氏墓志铭》 以文明元年二月廿二日,终于巴州之公馆。春秋卅有一。
  21. ^ 《旧唐书章怀太子传》  文明元年,则天临朝,令左金吾将军丘神勣往巴州检校贤宅,以备外虞。神勣遂闭于别室,逼令自杀。
  22. ^ Cựu Đường thư, quyển 86
  23. ^ 《新唐书章怀太子传》 武后得政,诏左金吾将军丘神勣检卫贤第,迫令自杀,年三十四。后举哀显福门,贬神勣叠州刺史,追复旧王。神龙初,赠司徒,遣使迎丧,陪葬乾陵。睿宗立,追赠皇太子及谥。三子:光顺、守礼、守义。光顺为乐安王,徙义丰,被诛。守义为犍为王,徙封桂阳,薨。
  24. ^ 《旧唐书 章怀太子传》:则天举哀于显福门,贬神勣为叠州刺史,追封贤为雍王。
  25. ^ 《大唐故章怀太子并妃清河房氏墓志铭》 景云二年四月十九日,又奉敕追赠,册命为章怀太子。
  26. ^ 《旧唐书 章怀太子传》:神龙初,追赠司徒,仍遣使迎其丧柩,陪葬于乾陵。睿宗践祚,又追赠皇太子,谥曰章怀。
  27. ^ 《旧唐书章怀太子传》 守礼本名光仁,垂拱初改名守礼,授太子洗马,封嗣雍王。守礼以父得罪,与睿宗诸子同处于宫中,凡十余年不出庭院。至圣历元年,睿宗自皇嗣封为相王,许出外邸。
  28. ^ 《旧唐书 章怀太子传》:有三子:光顺、守礼、守义。光顺,大授中封安乐郡王,寻被诛。守义,文明年封犍为郡王。垂拱四年,徙封永安郡王,病卒。守礼本名光仁,垂拱初改名守礼,授太子洗马,封嗣雍王。