Lý Tòng Bá

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lý Tòng Bá
Tiểu sử
Sinh

14 tháng 11, 1931(1931-11-14)

An Giang, Việt Nam
Mất

22 tháng 2, 2015 (83 tuổi)

Nevada, Hoa Kỳ
Binh nghiệp
Thuộc Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực Việt Nam Cộng hòa
Năm tại ngũ 1951-1975
Cấp bậc US-O7 insignia.svg Chuẩn tướng
Đơn vị Binh chủng Thiết giáp
Sư đoàn 23Sư đoàn 25 Bộ binh
Chỉ huy Flag of South Vietnam.svg Quân đội Quốc gia
Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực Việt Nam Cộng hòa
Công việc khác Tỉnh trưởng

Lý Tòng Bá (1931-2015) là một cựu tướng lĩnh Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Chuẩn tướng. Ông là vị Tư lệnh cuối cùng của Sư đoàn 25 Bộ binh, đại đơn vị cuối cùng chiến đấu bảo vệ mắt Bắc Sài Gòn trước khi thất thủ.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 14 tháng 11 năm 1931 trong một gia đình khá giả ở quê ngoại tại làng Bình Đức, tổng Định Phước, quận Châu Thành, tỉnh Long Xuyên (nay thuộc thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang), miền Tây Nam Việt Nam. Quê nội của ông thuộc quận Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.

Từ năm 1937, ông là học sinh trường Tiểu học Long Xuyên, rồi trường Trung học Collège Cần Thơ theo chương trình Pháp. Năm 1947, ông tốt nghiệp với văn bằng Thành chung. Sang năm 1948, ông trúng tuyển theo học trường Thiếu sinh quân Đông Dương ở Cap Saint Jacques, Vũng Tàu. Ngoài chương trình quân sự học đường, ông còn được học chương trình phổ thông Trung học Đệ nhị cấp. Năm 1950, ông tốt nghiệp với chứng chỉ tương đương văn bằng Tú tài bán phần (Part I).

Bình nghiệp trong Quân đội Quốc gia Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 11 năm 1951, ông nhập ngũ vào Quân đội Quốc gia Việt Nam, mang số quân: 51/121.307 và theo học khóa 6 Đinh Bộ Lĩnh tại trường Võ bị Liên quân Đà Lạt, khai giảng ngày 1 tháng 12 năm 1951. Ngày 1 tháng 10 năm 1962 mãn khóa tốt nghiệp Thủ khoa với cấp bậc Thiếu úy hiện dịch.

Ngay sau khi ra trường, ông được tuyển chọn vào Thiết giáp và theo học tiếp khóa căn bản Binh chủng tại Trung tâm Huấn luyện Thiết giáp Viễn Đông của Quân đội Pháp ở Vũng Tàu kể từ ngày 1 tháng 10 năm 1952 đến ngày 1 tháng 4 năm 1953. Cùng theo học khóa này, có các thiếu úy trẻ Hoàng Xuân Lãm, Nguyễn Văn Toàn, Phan Hòa Hiệp, Trần Quang Khôi, về sau là những tướng lĩnh của Việt Nam Cộng hòa.

Sau khi mãn khóa căn bản Thiết giáp, ông được cử giữ chức Trung đội trưởng Trung đội Thám thính M.8 thuộc Tiểu đoàn 7 Thám thính ở Hà Đông. Đầu năm 1954, ông được chọn làm sĩ quan Tùy viên cho Trung tướng Nguyễn Văn Hinh, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Quốc gia. Tháng 12 cùng năm ông được thăng cấp Trung úy tại nhiệm.

Phục vụ trong Quân đội Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu năm 1955, ông trở lại Binh chủng và được cử làm Đại đội trưởng Đại đội Thám thính. Sau khi Quân đội Quốc gia được cải danh thành Quân đội Việt Nam Cộng hòa, tháng 10 cùng năm ông được chọn đi du học khóa cao cấp Thiết giáp tại trường Kỵ binh Saumur ở Pháp, đến đầu tháng 1 năm 1956 mãn khóa. Cùng học khóa này có các bạn học cũ của ông tại trường Thiết giáp Viễn Đông như là các trung úy Phan Hòa Hiệp, Trần Quang Khôi. Ngoài ra còn có các đại úy Nguyễn Duy Hinh, Lê Đức Đạt, về sau đều là những tướng lĩnh của Việt Nam Cộng hòa.

Ngay sau khi mãn khóa cao cấp Thiết giáp trở về nước, ông được cử làm Chi đoàn trưởng Chi đoàn chiến xa M.8 (sau đổi thành Chi đoàn chiến xa M.24) thuộc Trung đoàn 1 Thiết giáp đồn trú ở Gò Vấp, Gia Định do Thiếu tá Hoàng Xuân Lãm, bạn học cũ của ông, làm Trung đoàn trưởng. Đầu năm 1958, ông được thăng cấp Đại úy tại nhiệm. Tháng 12 cùng năm, được cử đi du học khóa căn bản và cơ khí Thiết giáp tại trường Lục quân Fort Knox, Tiểu bang Kentucky, Hoa Kỳ. Tháng 5 năm 1959, mãn khóa học, ông về nước và phục vụ tại ban Tu thư, sau đó được giao chức vụ sĩ quan Phụ tá Tiếp vận của Bộ chỉ huy Thiết giáp tại trại Trần Hưng Đạo, Bộ Tổng tham mưu.

Đầu năm 1960, ông được cử giữ chức Chỉ huy phó trường Huấn luyện Thiết giáp ở Thủ Đức do Thiếu tá Vĩnh Lộc làm Chỉ huy trưởng.

Hoạn lộ long đong[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 6 cùng năm, ông được biệt phái sang lĩnh vực Hành chính giữ chức vụ Phó Tỉnh trưởng Nội an kiêm Tiểu khu trưởng tỉnh Phước Long. Cuối năm, ông bị trả ông về quân đội vì bị nghi ngờ ủng hộ cuộc đảo chánh ngày 11 tháng 11 năm 1960 do Đại tá Nguyễn Chánh Thi cầm đầu. Ông được cử làm Chỉ huy phó Trung tâm Huấn luyện Cơ giới Bảo an ở Vũng Tàu do Thiếu tá Lê Đức Đạt, bạn học cũ của ông, làm Chỉ huy trưởng. Đến giữa năm 1961, ông được cử làm Đại đội trưởng Đại đội 7 Cơ giới M.113 tân lập thuộc Sư đoàn 7 Bộ binh ở Mỹ Tho (sau cải danh thành Chi đoàn 4 Thiết vận xa thuộc Trung đoàn 2 Thiết giáp). Tháng 12 cùng năm, ông được thăng cấp Thiếu tá và được cử giữ chức Trung đoàn trưởng Trung đoàn 2 Thiết giáp thay thế Trung tá Lâm Quang Thơ.

Đầu tháng 12 năm 1963, một tháng sau cuộc đảo chính Tổng thống Ngô Đình Diệm, ông được cử giữ chức vụ Chỉ huy Chiến đoàn 6 Thiết vận xa tân lập tại Mỹ Tho. Trung tuần tháng 8 năm 1964, ông được thăng cấp Trung tá. Ngày 13 tháng 9 năm này ông tham gia cuộc biểu dương Lực lượng (thực chất là đảo chính) xuất phát từ Quân khu 4 do Trung tướng Dương Văn Đức Tư lệnh Quân đoàn IV cầm đầu. Đảo chính thất bại, ông bị bắt và giam giữ tại Quân lao Gò Vấp, sau đó chuyển sang Đề lao Chí Hòa. Tháng 10 cùng năm ông bị ra Tòa án binh và Hội đồng Kỷ luật Quân đội nhưng được tha bổng và phục hồi cấp bậc. Sau đó ông được cử làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 1 Thiết giáp. Tháng 10 năm 1965, ông lại được điều đi nhận chức vụ Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Bình Dương. Ngày Quốc khánh Đệ Nhị Cộng hòa 1 tháng 11 cùng năm, ông được đặc cách thăng cấp Đại tá tại nhiệm.

Tháng 4 năm 1968, rời khỏi chức vụ Tỉnh trưởng tỉnh Bình Dương, ông được chuyển về Trung ương giữ chức vụ Chánh sở Thanh tra thuộc Tổng nha Thanh tra Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Đầu năm 1971, ông thuyên chuyển ra Quân khu 2 được cử vào chức vụ Tư lệnh phó Quân đoàn II kiêm Đặc trách Chương trình Bình định & Phát triển của Quân khu 2 tại Nha Trang.

Hạ tuần tháng 1 năm 1972, ông được bổ nhiệm chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh thay thế Chuẩn tướng Võ Văn Cảnh. Tháng 5 cùng năm, ông được đặc cách thăng cấp Chuẩn tướng tại nhiệm ở mặt trận do chiến tích của Sư đoàn 23 đã lập được tại chiến trường Kontum trong "Mùa hè Đỏ lửa".

Tuy nhiên, đến tháng 10 cùng năm, ông lại đổi làm Chỉ huy trưởng Thiết giáp Trung ương tại Trại Phù Đổng, Gò Vấp. Giữa năm 1973, ông được cử làm sĩ quan tùy viên cho Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trong chuyến công du thăm viếng các Quốc gia Hoa Kỳ, Ý, Anh, Trung Hoa Quốc gia và Đại Hàn với thời gian 2 tuần lễ.

Trận chiến cuối cùng[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày Quốc khánh 1 tháng 11 năm 1974, ông được bổ nhiệm vào chức vụ Tư lệnh Sư đoàn 25 Bộ binh, bản doanh đặt tại Căn cứ Đồng Dù, Củ Chi.

Sáng ngày 29 tháng 4 năm 1975, lực lượng Trung đoàn 48 của quân Giải phóng miền Nam tấn công vào sở chỉ huy Sư đoàn 25 Bộ binh tại Đồng Dù. Tướng Lý Tòng Bá lệnh cho thuộc hạ phản công quyết liệt. Tuy nhiên, đến trưa, không chịu nổi sức mạnh áp đảo của đối phương, vốn đã áp sát Sài Gòn, ông cùng thuộc hạ rút bỏ khỏi sở chỉ huy. Sáng ngày 30 tháng 4, sau khi kiểm soát hoàn toàn Củ Chi, chính quyền mới ra phát thanh kêu gọi các binh sĩ Việt Nam cộng hòa ra trình diện tại Rạp hát Củ Chi (nay là trụ sở Công an huyện Củ Chi). Ông đích thân dẫn các sĩ quan thuộc quyền ra trình diện. Khi ra trình diện, ông vẫn mặc bộ quân phục nhưng đã tháo bỏ quân hàm Chuẩn tướng. Chiều ngày hôm đó, ông cùng các binh sĩ dưới quyền ra trình diện được đưa trở lại vào căn cứ Đồng Dù bàn giao cho Cục Chính trị Sư đoàn 320 Quân đội Nhân dân Việt Nam.[1] Tuy nhiên, một số tài liệu khác lại ghi là ông bị bắt sống tại tại làng Tân Thạnh Đông, quận Củ Chi.

Tù đày và lưu vong[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thời gian sải tạo, ông bị đưa đi lưu đày qua các trại Quang Trung (Gia Định) và các trại ở miền Bắc: Yên Bái (Hoàng Liên Sơn), Hà Tây, Hà Nam (Hà Nam Ninh) cho đến ngày 13 tháng 2 năm 1988 mới được trả tự do.

Đầu năm 1990, ông xuất cảnh sang Mỹ theo diện H.O (Chương trình ra đi có trật tự) do Chính phủ Hoa Kỳ bảo lãnh. Sau đó, sum họp với gia đình tại Las Vegas, Tiểu bang Nevada.

Ngày 22 tháng 2 năm 2015, ông từ trần tại nơi định cư. Hưởng thọ 84 tuổi.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Ông lập gia đình với bà Chung Bạch Vân, cháu nội cụ Chung Bá Vạng, quê ở Bạc Liêu. Ông bà có 3 người con gồm 2 trai, 1 gái.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]