Lý Thần Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lý Thần Tông
Vua Việt Nam (chi tiết...)
Hoàng đế Đại Việt
Trị vì 11271138
Tiền nhiệm Lý Nhân Tông
Kế nhiệm Lý Anh Tông
Thông tin chung
Thê thiếp xem văn bản
Hậu duệ
Tên húy Lý Dương Hoán (李陽煥)
Niên hiệu Thiên Thuận (1128-1132)
Thiên Chương Bảo Tự (1133-1138)
Thụy hiệu Thuận Thiên Quảng Vận Khâm Minh Nhân Hiếu Hoàng Đế
Miếu hiệu Thần Tông (神宗)
Triều đại Nhà Lý
Thân phụ Sùng Hiền hầu
Thân mẫu Đỗ Phu nhân
Sinh 1116
Thăng Long
Mất 31 tháng 10 năm 1138
Điện Vĩnh Quang, Thăng Long
An táng Thọ Lăng (寿陵)
Tôn giáo Phật giáo

Lý Thần Tông (chữ Hán: 李神宗; 11161138) là vị hoàng đế thứ 5 của nhà Lý. Ông trị vì từ năm 1127 đến khi qua đời, tổng cộng là 11 năm. Mặc dù lên ngôi khi mới 11 tuổi, Lý Thần Tông đã tin dùng những người tài như Trương Bá Ngọc, Dương Anh NhịLý Công Bình, thực hiện chính sách cai trị khoan dung và duy trì được sự ổn định của Đại Việt. Thời kỳ Lý Thần Tông còn chứng kiến việc Đại Việt đánh bại các cuộc xâm lược của Chân LạpChiêm Thành năm 1132, 1136. Bên cạnh đó, Thần Tông bị sử sách phê phán vì quá mê tín vào các "điềm lành".

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Lý Thần Tông, tên thật là Lý Dương Hoán (李陽煥), sinh vào tháng 6 âm lịch năm 1116, là con trai của Sùng Hiền hầu - em trai của Lý Nhân Tông, tức là cháu gọi Nhân Tông bằng bác. mẹ ông là Đỗ phu nhân, là chị của Đỗ Anh Vũ.

Có ý kiến cho rằng, Lý Thần Tông là hậu thân của thiền sư Từ Đạo Hạnh. Sách Đại Việt Sử ký Toàn thư, quyển III ghi lại việc Từ Đạo Hạnh thoát xác tại chùa núi Thạch Thất năm 1116, ngay trước khi Lý Dương Hoán ra đời. Người xưa cho rằng vì Lý Nhân Tông không có con nên Từ Đạo Hạnh đầu thai làm con trai Sùng Hiền hầu để duy trì sự nghiệp của nhà Lý.

Cai trị[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng Giêng, ngày Giáp Ngọ, năm Kỷ Dậu (1129), Lý Thần Tông tôn cha đẻ là Sùng Hiền hầu làm Thái thượng hoàng. Đại Việt sử lược chép việc ông tôn mẹ nuôi là Thần Phi làm Thái hậu.[1] Đến tháng 1 âm lịch năm 1129, ông lại tôn cha là Sùng Hiền hầu làm Thái thượng hoàng và mẹ ruột là Đỗ thị làm Hoàng thái hậu.[2]

Ông thường tìm kiếm những con vật lạ trong thiên hạ làm sở thích. Phàm ai có hươu trắng, hươu đen hay chim sẻ trắng, rùa trắng... đều đem dâng vua cả. Lúc ấy, có Đỗ Khánh là lính ở Tả Vũ Tiệp đem dâng con xương và con cá công sắc vàng. (Cá xương là một loại cá biển, cũng gọi là cá hầu. Cá công cũng ở biển, còn gọi là cá chiết, trông gần giống như con cua). Ông cho đấy là điềm lành, bèn xuống chiếu cho bề tôi chúc mừng. Cáp môn sứ là Lý Phụng Ân nói rằng:[3]

“ Cá là vật nhỏ mọn mà bệ hạ đã lấy làm điềm lành, vậy nhỡ sau này có người đem tới dâng con lân con phượng thì bệ hạ sẽ làm sao? ”

Bởi lời ấy, việc này mới thôi.

Năm 1128, Chân Lạp xua hơn 2 vạn quân tấn công bến Ba Đầu (Nghệ An). Thần Tông sai Thái phó Lý Công Bình chỉ huy quân chính quy liên kết với dân Nghệ An chống trả. Quân Đại Viẹt đã đánh tan quân Chân Lạp, bắt được chủ tướng cùng 169 binh sĩ. Vua Thần Tông đến các cung Thái Thanh, Cảnh Linh và các chùa quán ở Thăng Long để làm lễ tạ ơn Thần, Phật phù hộ cho người Việt giữ nước.[2] Đến tháng 8 năm 1132, quân Chân Lạp hợp sức với Chiêm Thành cướp phá Nghệ An. Thần Tông sai quan Thái úy Dương Anh Nhị đánh thắng được quân hai nước. Sang năm 1134, hai nước phải đến tiến cống[1]. Tháng 9 năm 1136, tướng Chân Lạp là Tô Phá Lăng lại mang quân vào cướp phá Nghệ An. Thần Tông sai quan Thái phó là Lý Công Bình đi đánh bại quân Chân Lạp.

Thần Tông đại xá cho các tù phạm và trả lại ruộng đất mà đã tịch thu của quân dân trước đó. Ông cũng thực hiện chính sách ngụ binh ư nông, cho binh lính thay phiên nhau cứ sáu lần một tháng được về làm ruộng. Vì thế, việc sản xuất nông nghiệp của Đại Việt phát triển[4].

Giai thoại[sửa | sửa mã nguồn]

Tương truyền năm Thần Tông 21 tuổi (1136), bỗng nhiên mắc bệnh lạ, trên người mọc lông hổ, ngồi xổm chụp người, cuồng loạn, gầm gừ đáng sợ. Triều đình phải làm cũi vàng nhốt Vua trong đó. Khi ấy có đứa bé ở Chân Định hát rằng:

Nước có Lý Thần Tông,
Triều đình muôn việc thông.
Muốn chữa bệnh thiên hạ,
Cần được Nguyễn Minh Không.

Triều đình sai quan chỉ huy đi đón sư Nguyễn Minh Không. Đến am, sư cười bảo: "Đâu không phải là việc cứu cọp đó ư?" Quan chỉ huy hỏi: "Sao thầy sớm biết trước?" Sư bảo: "Ta đã biết việc này trước ba mươi năm". Sư đến triều vào trong điện ngồi, lên tiếng bảo: "Bá quan đem cái đảnh dầu lại mau, trong đó để một trăm cây kim, và nấu cho sôi, đem cũi vua lại gần đó." Sư lấy tay mò trong đảnh lấy một trăm cây kim găm vào thân vua, nói: "Quí là trời". Tự nhiên lông, móng, răng đều rụng hết, thân vua hoàn phục như cũ. Vua tạ ơn sư một ngàn cân vàng và một ngàn khoảnh ruộng để hương hỏa cho chùa, ruộng này không có lấy thuế.

Về việc này, Đại Việt sử ký toàn thư, quyển III không nhắc đến việc hóa hổ mà chép như sau:

[Năm 1136] Vua bệnh nặng, chữa thuốc không khỏi. Nhà sư Minh Không chữa khỏi, phong làm quốc sư. Tha thuế dịch cho vài trăm hộ [ban cho Minh Không]. (Tục truyền khi nhà sư Từ Đạo Hạnh sắp trút xác, trong khi ốm đem thuốc niệm thần chú rồi giao cho học trò là Nguyễn Chí Thành tức Minh Không, dặn rằng 20 năm sau nếu thấy quốc vương bị bệnh lạ thì đến chữa ngay, có lẽ là việc này).

Sách Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục cũng chỉ ghi vắn tắt việc Lý Thần Tông "có tật chữa lâu không khỏi, sau nhờ nhà sư Minh Không chữa được".

Lý Thần Tông băng ngày 26 tháng 9 năm Mậu Ngọ (tức 31 tháng 10 năm 1138) ở Vĩnh Quang điện (永光殿), thọ 23 tuổi.

Gia quyến[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Lệ Thiên hoàng hậu Lý thị (儷天皇后李氏), cha là Lý Sơn (李山).
  2. Linh Chiếu hoàng hậu Lê thị (靈照皇后黎氏), sơ phong Cảm Thánh phu nhân (感聖夫人).
  3. Phụng Thánh phu nhân Lê thị (奉聖夫人黎氏).
  4. Minh Bảo phu nhân Lê thị (明寶夫人黎氏).
  5. Chương Anh thứ phi (章英次妃).
  • Hoàng tử:
  1. Minh Đạo vương Lý Thiên Lộc [明道王李天祿], sinh năm 1132, không rõ mẹ.
  2. Lý Anh Tông, húy 'Thiên Tộ [天祚], mẹ là Linh Chiếu hoàng hậu.
  3. Hoàng tam tử, chết sớm (1137).
  • Hoàng nữ:
  1. Hoàng trưởng nữ, chết sớm (1132).
  2. Thụy Thiên công chúa (瑞天公主), sinh năm 1137.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Đại Việt sử lược, quyển 3
  2. ^ a ă Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 126-127.
  3. ^ Ngô Sĩ Liên 1993, tr. 130.
  4. ^ Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng, sách đã dẫn, tr 80

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]