Lý cung nhân (Hán An Đế)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Hiếu An Lý cung nhân
孝安李宮人
Hán Thuận Đế sinh mẫu
Thông tin chung
Phu quânHán An Đế Lưu Hỗ
Hậu duệHán Thuận Đế Lưu Bảo
Thụy hiệu
Cung Mẫn hoàng hậu
(恭愍皇后)
An tángCung Bắc lăng (恭北陵)

Hán An Đế cung nhân Lý thị (chữ Hán: 漢安帝宮人李氏; ? - 115), thụy Cung Mẫn hoàng hậu (恭愍皇后), là một phi tần của Hán An Đế Lưu Hỗ, sinh mẫu của Hán Thuận Đế Lưu Bảo.

Cuộc đời[sửa | sửa mã nguồn]

Không rõ xuất thân của Lý cung nhân. Địa vị của bà trong hậu cung tương đối thấp, vì cấp bậc [Cung nhân; 宮人] là cấp bậc dùng cho các nữ tử vô danh trong hậu cung, dưới các cấp Mỹ nhân (美人) và Quý nhân. Lý thị được Hán An Đế ngẫu nhiên sủng hạnh, vào năm Nguyên Sơ thứ 2 (115) thì sinh ra Lưu Bảo - con trai độc nhất của Hán An Đế. Khi ấy, Hoàng hậu Diêm thị của An Đế tính cách bá hổ, có tính ghen ghét, độc chết Lý thị không lâu sau khi hạ sinh hoàng tử Lưu Bảo[1].

Năm Vĩnh Ninh nguyên niên (120), ngày 11 tháng 4, dưới sự chủ trì của Đặng Thái hậu, Hoàng tử Lưu Bảo được lập làm Hoàng thái tử[2]. Năm Diên Quang thứ 3 (124), Diêm hậu cùng Đại trường thu Giang Kinh (江京) và Trung thường thị Phiền Phong (樊豐) đổ tội cho Thái tử Lưu Bảo, lúc đó mới 9 tuổi và khiến An Đế phế truất Thái tử, giáng làm Tế Âm vương (濟陰王)[3][4].

Năm Diên Quang thứ 4 (125), mùa xuân, Diêm hậu cùng Hán An Đế đi lên tế bái Chương lăng, trên đường thì An Đế đổ bệnh. Sang ngày 10 tháng 3, An Đế băng thệ tại huyện Diệp, thọ 31 tuổi[5]. Dưới âm mưu của Diêm Thái hậu, Tế Âm vương Lưu Bảo dù là con trai duy nhất của An Đế, vẫn bị cản trở trong đường lên ngôi. Cuối cùng, dưới sự giúp đỡ của Tôn Trình (孫程), Lưu Bảo thuận lợi kế vị, tức Hán Thuận Đế.

Năm Vĩnh Kiến nguyên niên (126), Diêm Thái hậu băng. Thuận Đế lúc này mới biết mẹ đẻ là cung nhân Lý thị chết thảm, bất giác cảm thương, tôn thụy hiệu là [Cung Mẫn hoàng hậu; 恭愍皇后], táng ở Cung Bắc lăng (恭北陵), phụng Thế Tổ miếu[6].

Năm Sơ Bình nguyên niên (190), hữu ti tấu thỉnh:"Hòa Đế Mục Tông, An Đế Cung Tông, Thuận Đế Kính Tông, Hoàn Đế Uy Tông, vô đức vô công, không thể xưng Tông. Còn có Cung Hoài hoàng hậu, Kính Ẩn hoàng hậu, Cung Mẫn hoàng hậu không phải chính đích, không hợp gọi là Hậu, xin triệt từ tôn hiệu.". Hán Hiến Đế phê chuẩn[7].

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 《後漢書·皇后紀第十下/安思閻皇后》:安思閻皇后諱姬,河南滎陽人也。祖父章,永平中為尚書,以二妹為貴人。章精力曉舊典,久次,當遷以重職,顯宗為後宮親屬,竟不用,出為步兵校尉。章生暢,暢生后。后有才色。元初元年},以選入掖庭,甚見寵愛,為貴人。二年,立為皇后。后專房妒忌,帝幸宮人李氏,生皇子保,遂鴆殺李氏。
  2. ^ 《后汉书·卷五·孝安帝纪第五》:夏四月丙寅,立皇子保为皇太子,改元永宁,大赦天下。
  3. ^ 《后汉书·卷十下·皇后纪第十下》:后宠既盛,而兄弟颇与朝权,后遂与大长秋江京、中常侍樊丰等共谮皇太子保,废为济阴王。
  4. ^ 《后汉书·卷五·孝安帝纪第五》:九月丁酉,废皇太子保为济阴王。
  5. ^ 《后汉书·卷十下·皇后纪第十下》:四年春,后从帝幸章陵,帝道疾,崩于叶县。
  6. ^ 《後漢書·皇后紀第十下/安思閻皇后》: 帝母李氏瘞在洛陽城北,帝初不知,莫敢以聞。及太后崩,左右白之,帝感悟發哀,親至瘞所,更以禮殯,上尊謚曰恭愍皇后,葬恭北陵,為策書金匱,藏於世祖廟。
  7. ^ 《后汉书·卷九·孝献帝纪第九》:是岁,有司奏,和、安、顺、桓四帝无功德,不宜称宗,又恭怀、敬隐、恭愍三皇后并非正嫡,不合称后,皆请除尊号。制曰:"可。"