Bước tới nội dung

Lăng phát tích nhà Đinh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Mặt trước lối vào lăng phát tích nhà Đinh
Lăng phát tích trên lưng chừng núi
Chùa Kỳ Lân ở quê hương Vua Đinh Tiên Hoàng

Lăng phát tích nhà Đinh là nơi thờ tổ tiên dòng họ vua Đinh Tiên Hoàng trên quê hương ông tại làng Đại Hữu, châu Đại Hoàng xưa, nay là xã Đại Hoàng, tỉnh Ninh Bình. Lăng phát tích cũng là danh lam thắng cảnh thuộc khu di tích quốc gia đặc biệt cố đô Hoa Lư.[1] Lăng phát tích nằm trong quần thể núi chùa Kỳ Lân, động Đại Hữu và hồ Đại Hoàng. Đây cũng là điểm du lịch tìm về cội nguồn được địa phương khai thác trong tour du lịch với chủ đề "Theo dấu chân vua Đinh Tiên Hoàng", kết nối với các điểm di tích: Đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng- Lăng Phát Tích, chùa Kỳ Lân- động Hoa Lư.[2]

Lăng Phát Tích ở vị trí tọa độ: 20.334178, 105.850224; Nằm cách trung tâm tỉnh Ninh Bình 14 km theo đường chim bay. Từ trung tâm tỉnh theo quốc lộ 1A về phía Bắc rồi rẽ trái vào quốc lộ 37C đến Lăng phát tích 18 km. Lăng phát tích cũng nằm rất gần các di tích liên quan đến vua Đinh Tiên Hoàng tại xã Đại Hoàng như: Đền Vua Đinh Tiên Hoàng, Nhà thờ họ Đinh Việt Nam, sông Hoàng Long và núi Cắm Gươm.

Đây được coi là nơi đắc địa, hội tụ được mọi khí thiêng của trời đất, sông núi: Dãy núi có hình dáng một con Kỳ Lân khổng lồ, đầu quay về hướng Đông, vươn lên cao giữa vùng bình địa mênh mông. Cả quả núi được coi là Lăng mộ, núi hình Kỳ Lân, đầu quay về hướng Đông. Đứng ở phía Đông Nam nhìn Lăng như ngồi giữa ngai vàng… Lăng được đặt vào huyệt đất với Huyền Vũ có núi Đỗ Thích, Bạch Hổ có núi Long, núi Hổ quay đầu vào Lăng, Thanh Long có dãy đồi Độc Lập như một bày voi phục chầu về, Chu Tước có núi Ngũ Nhạc với 5 quả núi nhỏ được dân gian ví như 5 vị Hoàng hậu của Vua, sông Hoàng Long uốn lượn như rồng sống động đầy khí lực chạy sát chân núi Kỳ Lân, mang địa khí bồi bổ cho Long huyệt.[3]

Lịch sử

[sửa | sửa mã nguồn]

Tương truyền đây là nơi Quan thứ sử Đinh Công Trứ (thân phụ của Đinh Tiên Hoàng) thấy cảnh đẹp đã mang mộ của ông bà nội nhà vua an táng tại ngai này, xây dựng lăng mộ, gọi là Lăng phát tích, hiện đã được tôn tạo thành nơi yên nghỉ của dòng họ Vua.[4].

Theo văn bia dựng năm Thuần Phúc sơ niên (1562): “Vốn ngôi chùa Hang ở thôn Vân Hà” “ở trên núi Đại Hữu”, “là chốn danh lam có từ cổ xưa. Gần đây dân thôn đứng ra lo liệu tu sửa lại”. Năm Đinh Tỵ (1557), đã cho tô lại các tòa tượng Phật, nay lại cho lợp ngói ngôi chùa, để lưu lại cho muôn đời sau. Năm 1562, ông Phụ Quốc Thượng tướng quân phát tâm hưng công trùng tu, tôn tạo, đắp tượng thờ Phật. “Quy mô tráng lệ, chế độ mới tươi, hơn hẳn khi trước vậy. Ngày 12 tháng 3 mở hội chùa tụng kinh Phạn trước là chúc Thánh thượng hoàng đế muôn tuổi, sau là mong thần dân phú, thọ, khang, ninh… Công đức to lớn nhường bao, muốn khắc lên bia đá. Chùa ta được gọi là Kỳ Lân do hình thế của chùa mà có. Người có công được vinh thân, còn gia đình thì con cháu truyền nối. Quốc tộ dài lâu. Công đức ấy thật khó luận bàn”.[5]

Kiến trúc Lăng phát tích

[sửa | sửa mã nguồn]

Lăng phát tích nằm trên sườn núi, cao khoảng 20m so với mặt đất, đường lên Lăng phát tích được thiết kế với khoảng 50 bậc đá chia làm 5 nhịp đều nhau. Phía trước Lăng, dưới chân núi có sập đá để thờ bằng đá nguyên khối chạm khắc nổi hình rồng mây, phía sau là đôi trụ cột đèn và nhang án bằng đá xanh nguyên khối cũng chạm khắc nổi hình rồng mây, hoa sen.

Lăng phát tích vua Đinh Tiên Hoàng được xây dựng hai tầng tám mái, mỗi đầu mái được đắp nổi hình rồng, lợp bằng ngói vảy. Bên trong lăng có sập đá được chạm khắc nổi hình rồng, phượng, hoa sen để đặt đồ lễ thờ. Bên trên sập đá còn có đôi lộc bình đặt trên đế bằng đá. Sau sập đá là nhang án bằng đá chạm khắc cầu kỳ, sau đó là tấm bia lớn cao khoảng 2m, phía trên bia chạm đôi rồng chầu nguyệt, ở giữa bia khắc chữ Hán và chữ Việt “Lăng phát tích vua Đinh Tiên Hoàng Đế”. Bên dưới chân bia đặt chóe đựng rượu và nước để thờ.

Khi trùng tu nâng cấp Lăng phát tích nhà Đinh, đơn vị thi công thấy nhiều tảng đá có hình thù các con vật, kích thước to nhỏ khác nhau, như có sự xếp đặt trong lòng đất, nhiều tảng đá phải dùng mìn phá, đến độ sâu 2,7m thấy có tảng đá liền, phẳng, kích thước khoảng 3m2 x 3m2, tưởng là đá tự nhiên, tiếp tục dùng mìn phá. Dưới tảng đá lộ ra hai hũ sành giống nhau, cách nhau 1m nằm song song với sườn núi chiều cao khoảng 40cm, đường kính chỗ phình lớn nhất khoảng 22cm, miệng hũ đường kính khoảng 18 cm, vai phình, thân vát, đáy bằng để mộc, trên miệng hũ có đĩa đậy. So sánh những hiện vật đó với các cổ vật đời Đường, thấy có nhiều điểm tương đồng về men cũng như hình dáng.[6]

Chùa Kỳ Lân và hồ Đại Hoàng

[sửa | sửa mã nguồn]
Một góc chùa Kỳ Lân và hồ Đại Hoàng
Chùa Hang trên lưng chừng núi

Cùng trong một quần thể với lăng phát tích nhà Đinh là núi chùa Kỳ Lân, động Đại Hữu và hồ Đại Hoàng.[7]

Hang động Kỳ Lân có độ cao so với chân núi gần 40 mét. Đây là động dài khoảng 100 mét, rộng 40 mét, là động thông xuyên qua núi. Trong động có nhiều nhũ đá đẹp, có lối lên trời, có lối xuống "âm phủ", bởi từ giữa động có khoảng trống cao hun hút lên đến đỉnh núi lộ thiên, lại có hố sâu thẳm đên chân núi, tạo ra âm dương đối đãi, cân bằng. Có lẽ, chính vì vậy người xưa đã biến động thành chùa Kỳ Lân, còn gọi là chùa Hang. Trong "chùa" có xây bệ và đặt các tượng Phật. Ngày nay đã được tu tạo và xây dựng các tòa khang trang hơn. Hàng năm cứ đến ngày 26 và 27 tháng 9 âm lịch, tại núi chùa Kỳ Lân đều cử hành các khóa lễ và lễ húy kị theo nghi thức thành kính, tôn nghiêm. Cũng vào dịp này, con cháu dòng họ Đinh, cũng như Phật tử khắp nơi lại đổ về như trẩy hội để tham dự khóa lễ tưởng niệm chư vị tiền bối, lịch đại Tổ sư đã có công tạo dựng nên ngôi chùa Kỳ Lân linh thiêng huyền bí.

Chùa Hang không rõ năm xây dựng chùa, nhưng căn cứ vào 02 tấm bia được dựng vào niên hiệu triều Mạc (1527-1582) gồm: 01 tấm bia tạo năm Ất Sửu niên hiệu Thuần Phúc 1(1562); 01 tấm bia tạo năm Ất Sửu niên hiệu Thuần Phúc 4(1565) thông tin cho biết “Vốn ngôi chùa Hang ở thôn Vân Hà là chốn danh lam có từ cổ xưa. Gần đây dân thôn đứng ra lo liệu tu sửa lại”; Cũng nhờ nội dung tấm bia trùng tu của triều Mạc trong chùa, càng khẳng định ngôi chùa trước vốn được dựng trong động “Chùa Kỳ Lân trên núi Đại Hữu” và đã hiện diện từ trước những năm 1562.

Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, chùa đã bị Pháp đốt và đã được nhân dân xây dựng lại, đến thời kỳ chiến tranh chống đế quốc Mỹ, hang Kỳ Lân đã được sử dụng làm Đài phát tín 2 (phát thanh sang LàoCampuchia), năm 1972, khi bị Mỹ đánh bom Đài Tiếng nói Việt Nam mất sóng 9 phút, thì được tiếp sóng của Đài phát tín từ chùa Hang.

Chùa Kỳ Lân nằm bên cạnh Lăng phát tích, phía dưới chùa Hang, trước mặt là hồ Đại Hoàng. Chùa Kỳ Lân được xây dựng với kiến trúc 2 tầng, tám mái, lợp ngói vảy. Phía ngoài hiên có treo quả chuông bằng đồng được trang trí bằng các họa tiết rồng, mây, phượng… có tượng Đức Phật đang ngồi thiền, tay phải cầm bông hoa sen, tay trái đặt viên ngọc, bên tay phải từ ngoài vào có ban thờ tượng Phật Bà Quan Âm tay cầm cành liễu, bên tay trái có ban thờ tượng Địa tạng vương Bồ tát.

Đền Mẫu thờ Đinh Triều Quốc Mẫu và các vị hoàng hậu của Vua Đinh Tiên Hoàng.

Trước mặt Lăng phát tích và chùa Kỳ Lân là hồ Đại Hoàng được ví như nơi tụ thủy cho huyệt mộ. Hồ đã được cải tạo, xung quang làm đường đi, bờ hồ được xây hệ thống cột, lan can đá vững chắc. Giữa hồ có ngọn núi, cao chừng 15 mét, chân núi có tượng, bàn thờ Phật bà Quán Thế Âm là vị Bồ tát quán sát, lắng nghe tiếng kêu than của chúng sinh trong thế gian để kịp thời cứu giúp họ thoát khổ.

Chú thích

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ^ Quyết định số 56/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Nhiệm vụ lập Quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích quốc gia đặc biệt Cố đô Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050
  2. ^ Gia Viễn: Bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử
  3. ^ Đầu xuân thăm Lăng phát tích vua Đinh Tiên Hoàng
  4. ^ "Quần thể Lăng phát tích Vua Đinh Tiên Hoàng và Chùa Kỳ Lân". Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2023. {{Chú thích web}}: Đã bỏ qua tham số không rõ |= (trợ giúp)
  5. ^ Ký hiệu No.16926 tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam. Được in trong: Viện Nghiên cứu Hán Nôm -Bảo tàng Hải Phòng (2010), PGS.TS. Đinh Khắc Thuân sưu tập, khảo cứu, dịch chú, Văn bia thời Mạc, Nxb. Hải Phòng.
  6. ^ Mộ phần thân phụ Đinh Tiên Hoàng ở đâu?
  7. ^ Chùa Kỳ Lân