Lương quý nhân (Hán Chương Đế)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Chương Đế Lương quý nhân
章帝梁貴人
Hán Chương Đế phi tần
Thông tin chung
Phu quânHán Chương Đế Lưu Đát
Hậu duệHán Hòa Đế Lưu Triệu
Thụy hiệuCung Hoài hoàng hậu
(恭懷皇后)
Thân phụLương Tủng
Sinh61
Mã Thị, An Định (nay là Bình Lương, Cam Túc)
Mất83
Lạc Dương
An tángTây lăng

Hán Chương Đế Lương quý nhân (chữ Hán: 汉章帝梁貴人, 61 - 83), thụy hiệu Cung Hoài hoàng hậu (恭懷皇后), là phi tần của Hán Chương Đế Lưu Đát và là thân mẫu của Hán Hòa Đế Lưu Triệu.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Lương Quý nhân là người Ô Thị, An Định (安定乌氏; nay là Bình Lương, Cam Túc), con gái của Bao Thân Mẫn hầu Lương Tủng (梁竦). Từ nhỏ bà mất mẹ, nên được bá mẫu là Vũ Dương Trưởng công chúa (舞陽长公主) nuôi dưỡng.

Năm Kiến Sơ thứ 2 (77), bà nhập cung cùng người chị gái và cả hai được phong Quý nhân. Năm Kiến Sơ thứ 4 (79), bà sinh Lưu Triệu.

Trước đó, Hán Chương Đế đã phong Lưu Khánh, con trai của Tống quý nhân làm Thái tử theo yêu cầu của Mã Thái hậu. Hoàng hậu của Hán Chương Đế là Đậu thị không có con bèn chọn Hoàng tử Lưu Triệu làm con nuôi hòng học tập theo Mã Thái hậu nhận nuôi Chương Đế trước đó. Sau khi Mã Thái hậu mất, Đậu hoàng hậu vu cáo Tống quý nhân đưa vật lạ vào cung làm "tà thuật". Hán Chương Đế nổi trận lôi đình, phế truất Thái tử Lưu Khánh thành Thanh Hà vương (清河王) và lập Lưu Triệu làm tân Thái tử. Nhà họ Lương có được cháu là Thái tử nên lấy làm vui mừng. Họ Đậu khi biết được, cảm thấy không vui và lo sợ, bèn tìm cách tiêu diệt luôn dòng họ Lương.

Năm Kiến Sơ thứ 8 (83), Đậu hoàng hậu tố cáo Lương Tủng, cha của Lương quý nhân nhiều tội trạng vô căn cứ nhưng Hán Chương đế vẫn tin, ra lệnh giam Lương Tủng vào ngục khiến ông chết trong đó. Chị em Lương quý nhân bị ép uống rượu độc chết theo.

Truy tôn[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Chương Hòa thứ 2 (88), Hán Chương Đế băng hà, Thái tử Lưu Triệu lên ngôi, tức Hán Hòa Đế.

Sau khi Đậu Thái hậu qua đời, có người tố Thái hậu sát mẫu đoạt tử, đề nghị truy phế Thái hậu, nhưng Hán Hoà Đế vẫn không làm như thế. Đối với mẹ đẻ Lương Qúy nhân, ông cho làm một lễ khuyết tang trọng thể tại Thừa Quang cung (承光宮), truy tôn thụy hiệuCung Hoài hoàng hậu (恭懷皇后) và cùng chị gái an táng ở Tây lăng. Lễ nghi đều cùng với Tống Quý nhân khi táng vào Kính viên.

Năm Sơ Bình nguyên niên (190), hữu ti tấu thỉnh:"Hòa Đế Mục Tông, An Đế Cung Tông, Thuận Đế Kính Tông, Hoàn Đế Uy Tông, vô đức vô công, không thể xưng Tông. Còn có Cung Hoài hoàng hậu, Kính Ẩn hoàng hậu, Cung Mẫn hoàng hậu không phải chính đích, không hợp gọi là Hậu, xin triệt từ tôn hiệu.". Hán Hiến Đế phê chuẩn[1].

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 《后汉书·卷九·孝献帝纪第九》:是岁,有司奏,和、安、顺、桓四帝无功德,不宜称宗,又恭怀、敬隐、恭愍三皇后并非正嫡,不合称后,皆请除尊号。制曰:"可。"