Lưu Tư (nhà Minh)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Lưu Tư (chữ Hán: 刘孜, ? – 1468), tự Hiển Tư, người Vạn An, Giang Tây, quan viên nhà Minh.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Chánh Thống thứ 10 (1445) thời Minh Anh Tông, Tư đỗ tiến sĩ; được thụ chức Ngự sử, ra làm Tuần án Liêu Đông. Minh Đại Tông lên ngôi, bấy giờ có người đề nghị dời về nam để tránh quân Ngõa Lạt Mông Cổ, Tư đòi chém kẻ ấy để yên lòng người. Tư mãn nhiệm kỳ, triều đình bàn rằng vùng biên lắm việc, nên giữ ông thêm 1 năm. Sau đó Tư lại làm Tuần án Trực Lệ. Khi ấy triều đình sắp xây thành Luân Châu, nhưng theo lời Tư nên bãi bỏ. Tiếp đó Tư được cất làm Sơn Đông án sát sứ.

Năm Thiên Thuận thứ 4 (1460) thời Minh Anh Tông phục vị, bộ Lại tiến cử quan viên có thành tích tốt trong cả nước, Án sát sứ được chọn chỉ có mình Tư. Mùa xuân năm sau (1461), Tư giữ chức Hữu phó đô ngự sử, làm Tuần phủ Giang Nam 10 phủ. Tô Châu, Tùng Giang giàu có, từ khi Chu Thầm lập ra phép Bình mễ [1], đã trải qua nhiều thay đổi; Tư mô phỏng lối cũ của Chu Thầm, châm chước thi hành, được dân khen là tiện.

Năm Thành Hóa đẩu tiên (1465), phủ Ứng Thiên có nạn đói, quan viên đang chẩn cứu, nhưng dân đói Giang Bắc kéo đến xin ăn quá nhiều. Tư đề nghị mở hết kho của các huyện, cứu sống nạn dân không đếm xuể. Bấy giờ khắp nơi chịu thiên tai, ruộng công ven Trường Giang bỏ phế đã lâu, nhưng triều đình vẫn thu thuế: các phủ Tô Châu, Tùng Giang, Hàng Châu, Gia Hưng ghi chép bổ sung số nhà giàu trong địa phương; nhà môn của Nam Kinh đã đổ nát, nhưng vẫn trưng thu hàng hóa; nông dân Thương Nguyên, Giang Ninh thay nhà chài ven Hoàng Hà bắt cá cháy; thuế của phủ Ứng Thiên bị các Tuyên khóa tư thu thêm thuế ngoài ngạch [2]; dân các huyện Giang Âm phải nộp tô ruộng bỏ hoang; Lục Hợp, Giang Phổ (nay là Phổ Khẩu) thu tiền cho thuê bò của quan bằng cách đòi cả nghé. Tư đều dâng sớ đề nghị bãi bỏ tất cả.

Sau đó Tư được triệu bái làm Nam Kinh Hình bộ thượng thư. Năm thứ 4 (1468), Tư được trí sĩ, mất trên đường về quê nhà.

Đánh giá[sửa | sửa mã nguồn]

Sử cũ nhận xét Tư có tính thanh liêm và thận trọng, làm việc kín đáo và kỹ lưỡng. Nhưng Tư dùng pháp luật quá nghiêm khắc, nên người đương thời bình luận rằng ông quá cay nghiệt.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Minh sử quyển 159, liệt truyện 47 – Lưu Tư truyện

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Bình mễ pháp (平米法), còn gọi là phép thu thuế bình quân bổ sung hao hụt (均征加耗法, quân [đều, cùng] chinh [thu, lấy] gia [thêm, hơn] hao [hao hụt] pháp). Năm 1433, Giang Nam tuần phủ Chu Thầm đặt ra phép Bình mễ, quy định chủ ruộng phải nộp thêm một khoản thuế khấu hao, tức là hao mễ, căn cứ chất lượng và diện tích của ruộng mà định ra số tiền, mục đích là ép buộc nhà giàu nộp nhiều hơn nhà nghèo. Biện pháp này đến đời Thanh vẫn còn lưu hành
  2. ^ Đời Minh, vùng Kinh Sở đặt các quan điếm, gọi là Tuyên khóa tư, lấy chức Đại sứ đứng đầu, coi việc thu thuế. Chế độ này được đời Thanh duy trì