Lưu Thắng (Trung Sơn vương)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lưu Thắng/Trung Sơn Tĩnh vương
刘勝/中山靖王
Trung Sơn vương (chi tiết...)
Vương chủ chư hầu nhà Hán
Trị vì 154 TCN-113 TCN
tháng 6 Cảnh Đế tiền tam niên-tháng 2 Nguyên Đỉnh tứ niên
Tiền nhiệm Trung Sơn vương thời Chiến Quốc
Kế nhiệm Trung Sơn Ai vương Lưu Xương
Thông tin chung
Đậu thị Vương phi
Hậu duệ Xem văn bản
Tên thật Lưu Thắng
Tước vị Trung Sơn vương
Thụy hiệu Tĩnh vương (靖王)
Chính quyền Nhà Hán
Thân phụ Hán Cảnh Đế
Thân mẫu Giả phu nhân
Mất 113 TCN
Trung Quốc

Lưu Thắng (giản thể: 刘胜; phồn thể: 劉勝 ? - 113 TCN), tức Trung Sơn Tĩnh vương (中山靖王), là chư hầu vương đầu tiên của nước Trung Sơn, chư hầu nhà Hán trong lịch sử Trung Quốc. Ông nổi tiếng khi được nhắc đến như là tổ phụ của Hán Chiêu Liệt Đế Lưu Bị, vị hoàng đế khai quốc nước Thục Hán thời kỳ Tam Quốc.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Lưu Thắng là con trai thứ 9 của Hán Cảnh Đế Lưu Khải, vua thứ sáu của nhà Hán với mẹ là Giả phu nhân. Tháng 6[1] Hán Cảnh Đế tiền tam niên (154 TCN), Lưu Thắng được vua cha lập làm Trung Sơn vương, cai quản nước Trung Sơn.

Sau khi vua cha Hán Cảnh Đế qua đời (141 TCN), em trai ông là Lưu Triệt nối ngôi, tức là Hán Vũ Đế. Năm Kiến Nguyên thứ ba đời Hán Vũ Đế (138 TCN), Lưu Thắng cùng với các chư hầu vương là Đại vương Lưu Đăng, Trường Sa vương Lưu Phát, Tế Xuyên vương Lưu Minh vào Trường An, yết kiến Vũ Đế. Vũ Đế bày tiệc rượu và lễ nhạc tiếp đãi. Lưu Thắng nhân cơ hội này khóc lóc trước mặt Vũ Đế. Vũ Đế hỏi nguyên do, ông trình bày nỗi khổ của các vương chư hầu bởi vì từ sau thất quốc chi loạn, nhà Hán tăng cường giám sát các chư hầu vương vì lo ngại họ sẽ làm loạn, phái nhiều người đến phong quốc chư hầu giám sát. Các đại thần này lại tìm cớ gây sức ép với các vương chư hầu. Hán Vũ Đế tỏ ra thông cảm, ra lệnh giảm bớt yêu sách với chư hầu, nhưng về sau lại nghe lời Chủ phụ Yển, thực hiện chính sách chia đất lần lần cho tất cả con cháu của vua chư hầu trên lãnh thổ của chư hầu đó để làm giảm thế lực của họ.

Lưu Thắng là người háo sắc và thích uống rượu, có tới 22 người con và 120 cháu. Nhưng ông lại chê anh mình là Triệu vương Lưu Bành Tổ thích thanh sắc và âm nhạc, rốt cuộc Bành Tổ đố lại việc ông cũng là người dâm loạn và không phải là năng thần phụ tá thiên tử.

Tháng 2 xuân năm Nguyên Đỉnh thứ 4 (113 TCN), Lưu Thắng qua đời[2], làm Trung Sơn vương 42 năm rồi mất, không rõ bao nhiêu tuổi. Con ông là Lưu Xương nối tước, tức Trung Sơn Ai vương. Cháu 9 đời của ông là Lưu Bị (161 - 223), tức Chiêu Liệt đế thời Tam quốc.

Năm 1968, ở huyện Bảo Định, tỉnh Hà Bắc, người ta khai quật được mộ của Lưu Thắng cùng với vương phi Đậu thị. Trong mộ táng có nhiều ngọc y bao bọc quanh thi thể. Đây là phát hiện quan trọng đối với ngành khảo cổ học Trung Quốc thời Hán.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cha: Hán Cảnh Đế Lưu Khải
  • Mẹ: Giả phu nhân
  • Anh
    • Thái tử - Lâm Giang Mẫn vương Lưu Vinh
    • Hà Gian Hiến vương Lưu Đức
    • Lâm Giang Ai vương Lưu Át
    • Lỗ Cung vương Lưu Dư
    • Giang Đô Dịch vương Lưu Phi
    • Trường Sa Định vương Lưu Phát
    • Triệu Kính Túc vương Lưu Bành Tổ
    • Giao Tây Vũ vương Lưu Đoan
  • Em
    • Hán Vũ Đế Lưu Triệt
    • Quảng Xuyên Huệ vương Lưu Việt
    • Giao Đông Khang vương Lưu Kí
    • Thanh Hà Ai vương Lưu Thăng
    • Thường Sơn Hiến vương Lưu Thuấn
  • Chị em gái
    • Công chúa Bình Dương
    • Công chúa Nam Cung
    • Công chúa Long Lư...
  • Vợ: Vương phi Đậu thị (cháu của Đậu thái hậu nhà Hán)
  • Con cái

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]